Liên-hỮu
tin-lành báp-tít viỆt-nam, hoa-kỲ
vietnamese national baptist fellowship, u.s.a.
Hiệp Tác Để Phục Vụ Chúa Một Cách Hiệu Quả Hơn!
“Hăy
làm công việc Chúa cách dư dật luôn, v́ biết
rằng công khó của anh em trong Chúa
chẳng
phải là vô ích đâu”
(I Cô-rinh-tô 15:58)
www.vnbaptist.net BẢN TIN THÔNG CÔNG Tháng 10, 2007
Xin quư vị gởi bản tin này
đến cho nhiều người khác cùng đọc!
|
THÁNH LINH, XIN NGÀI ĐẦY DẪY! |
|
|
__________________________________ Thế lực âm phủ và tối tăm đang nổ lực cướp, giết và hủy diệt v́ chúng hốt hoảng về Ngày Của Chúa sắp đến. Chúng ra sức làm u tối tâm trí nhiều người và khiến họ cứng ḷng không tiếp nhận sự cứu rỗi của Chúa. Tội ác ngày càng thêm nhiều và sự thờ phượng quyền lực tối tăm đầy dẫy khắp đất. Có một môn đồ trong Hội Thánh Chúa tại Renton vừa về trở lại Hoa Kỳ sau chuyến thăm quê nhà cho biết cảm tưởng rằng ông rất đau ḷng và khó chịu v́ nơi làng quê của ông ngày nay có quá nhiều đền, miếu tà linh mọc lên. Tại các nơi thờ phượng đó người ta thờ đủ mọi thứ thần tượng, tà thần và h́nh rồng rắn chằn chịt với nhau. Hơn bao giờ hết, Satan và ma quỷ, qua nhiều h́nh thức, tấn công Hội Thánh của Đức Chúa Trời. Quyền lực chống Chúa (antichrist) càng ngày càng lan tràn khắp nơi. Lănh đạo nhà trường đă cấm không cho các sinh hoạt niềm tin Cơ Đốc được thực hiện tại trường, nhưng lại cho những niềm tin khác được truyền bá trong đó có cả đồng tính luyến ái. Khu học chánh gần nơi tôi ở thuộc thành phố Kent đă cấm không cho một Christian Club hoạt động v́ tôn chỉ của nhóm này là “giúp mọi thành viên có mối liên hệ mật thiết với Chúa Giê-su.” Trong hiện t́nh này, chúng ta sẽ không thể nào kết quả cho Chúa nếu thiếu sự đầy dẫy Đức Thánh Linh. Hơn ai hết, người hầu việc Chúa cần phải được đầy dẫy Thánh Linh. Đầy dẫy Chúa Linh chúng ta: |
1. Được Chúa hướng dẫn. Chúng ta rất cần Chúa Thánh Linh hướng dẫn trong mọi lúc và mọi việc (Giăng 16:13). Giữa “mê hồn trận” này, chúng ta không thể nào chạy vững vàng trên Con Đường Chân Lư nếu không có sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh. Ở một khía cạnh khác, đầy dẫy Thánh Linh cũng có nghĩa là được điều khiển bởi Ngài. Như một con thuyền ở giữa biển mênh mông, đời sống chúng ta cần người lái. Cảm tạ Thánh Linh, Ngài là thuyền trưởng đại tài. 2. Tôn cao danh Chúa. Chính Thánh Linh đầy dẫy trong chúng ta khiến chúng ta tôn cao danh Giê-su Christ là Chúa. Ngài dẫn chúng ta vào mọi lẽ thật của Đức Chúa Trời, qua đó chúng ta có thể dâng sự tôn vinh xứng đáng cho Danh của Ngài. Không thể nào tôn vinh Chúa một cách xứng đáng nếu không đầy dẫy Thánh Linh. Thánh Linh biết ư muốn của Đức Chúa Trời, v́ Ngài là Đức Chúa Trời, và Ngài nuôi chúng ta bằng chính ư chỉ đó để tâm trí chúng ta giống Christ càng hơn (1 Cô-rinh-tô 2:6-12) 3. Dầy dẫy trái và ơn. Chúa Thánh Linh cấy trồng trong chúng ta bông trái của Ngài đó là yêu thương, vui mừng, b́nh an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ. Đầy dẫy Thánh Linh cũng là lúc chúng ta nhận được nhiều ơn tứ để phụng sự Chúa và phục vụ Hội-thánh (1 Cô-rinh-tô 12). Đầy dẫy Thánh Linh sinh ra đời sống kết quả. 4. Sống đời sung măn. Sự đầy dẫy Thánh Linh dẫn chúng ta đến sự đắc thắng quyền lực tối tăm và bản ngă. Ngài cho chúng ta đến sự tự do (Ga-la-ti 5:16, 25). Thánh Linh là Nước và Bánh Hằng Sống sẽ khiến người khát và đói được no thỏa. Mục Sư Christian Phan Phước Lành
|
|
ĐẠI HỘI 24
Đại-Hội
Liên-Hữu Tin-Lành Báp-Tít Lần 24 Tại Thung Lũng Hoa Vàng, San Jose, CA
Chủ Đề: ĐỜI SỐNG KẾT QUẢ
Câu gốc: Giăng 15:16 “Ấy chẳng phải các ngươi đă chọn Ta, bèn là Ta đă chọn và lập các ngươi, để các ngươi đi và kết quả, hầu cho trái các ngươi thường đậu luôn: Lại cũng cho mọi điều các ngươi sẽ nhân danh Ta cầu xin Cha, th́ Ngài ban cho các ngươi.”
Đặc Biệt Ngày
Thông Công Của Mục Sư Đoàn Vào Ngày 02 tháng 07 năm 2008 Ban Tổ Chức Trưởng ban: Mục
sư Kiều Tuấn Huệ
|
|
Sinh Hoạt Gia Đ́nh Liên HữuKHẢI
TƯỢNG
V́ có một Đức Chúa Trời
Toàn Năng đồng hành, chúng ta nh́n vào tương
lai để thấy: THƯ VẬN ĐỘNG YỂM TRỢ XÂY DỰNG ĐỀN THỜ Atlanta, ngày 8 tháng 10 năm 2007 Kính gởi: Quí Vị Mục Sư, Chấp Sự, Lănh Đạo Cùng Quí Tín Hữu Trong Các Hội Thánh Báp-tít Việt Nam tại Hoa Kỳ Ban Chấp Hành Liên Hữu xin gởi đến quí vị lời chào thăm thân ái trong Chúa. Nguyền xin mọi ân điển tốt lành và sự ban cho trọn vẹn từ Đức Chúa Cha luôn tuôn tràn trên Quư Vị cách dư dật. Đức Chúa Trời đang mở đường cho nhiều mục vụ tốt lành tại Việt Nam. Một trong những cách Chúa đang ban ơn rời rộng là Hội Thánh Báp Tít Ân Điển tại Saigon - với thánh đường đă có từ đầu thập niên 1975 - được phép trùng tu. Việc trùng tu thánh đường cần sự yểm trợ tài chánh, nhất là trong giai đoạn chót, trước khi khánh thành. Chúng tôi kính xin Quí Vị Mục Sư, Chấp Sự, Lănh Đạo Cùng Quí Tín Hữu trong Các Hội Thánh Báp-tít Việt Nam tại Hoa Kỳ dâng hiến cách rời rộng cho công việc thật cần thiết này. Xin Quí Vị gởi tiền dâng này đến Thủ Quỹ Liên Hữu, Mục Sư Nguyễn Văn Trọng, 1364 Dallshan Dr., Carollton, Texas 75007 để tổng kết và chuyển về Việt Nam. Sau đây là phần trích dẫn tâm thư của Mục Sư Lê Quốc Chánh, quản nhiệm Hội Thánh Báp Tít Ân Điển tại Saigon: V́ công việc Chúa chung, v́ sự phát triển của Hội Thánh, v́ sự cứu rỗi của đồng bào dân tộc, và trên hết v́ sự vinh hiển danh Chúa, kính xin Quí Vị thêm lời cầu nguyện cho công việc Chúa tại quê nhà như: - Việc xây cất nhà thờ Hội Thánh Báp Tít Ân Điển (Vừa là trụ sở Tổng Hội BTVN, vừa là Trung Tâm huấn luyện nhân sự). - Tổ chức Lễ Cung Hiến Đền Thờ và Lễ Cảm Tạ kỷ niệm 45 năm thành lập Hội Thánh vào ngày 18.11.2007 (nếu đủ kinh phí hoàn tất việc xây cất nhà Chúa). - Tổ chức Đại Hội Tổng Hội Báp Tít Việt Nam vào đầu năm 2008. - Việc huấn luyện hằng năm cho các nhân sự gồm 60 Trưởng nhóm. - Việc xây nhà thờ cho Hội Thánh Báp Tít Phước Thiên tại Cần Thơ, tiêu biểu cho vùng đồng bằng Sông Cứu Long, gồm trên 500 tín đồ, đă hiến đất và có họa đồ phác thảo, cần hỗ trợ kinh phí xây dựng. Nguyện xin ư Chúa được nên,
Mục Sư Đào Văn Chinh
Hội Thánh Cần Người Chăn Hội Thánh Warner Robins, thành viên của Liên Hữu Tin Lành Baptist Việt Nam, đang cần người chăn dắt đàn chiên của Chúa. Đây là một Hội Thánh rất có tâm t́nh hầu việc Chúa. Warner Robins nằm phía nam Atlanta, khoảng 2 giờ đồng hồ lái xe. Chi tiết xin vui ḷng liên lạc: 478-397-5087.
Hội Thánh Cần Mục sư Thanh Niên Kính chào quư vị trong t́nh yêu của Chúa chúng ta. Với đà phát
triển của Hội thánh Chúa tại New Orleans, HT
cần t́m một vợ chồng Mục sư trẻ (tuổi dưới 45) để lo cho Thanh Thiếu Niên.
Chi tiết vui ḷng liên lạc: THÔNG BÁO CỦA ĐẶC SAN TIN & SỐNG Kính gửi Quư Vị Mục sư. Đọc giả và Ân Nhân TIN& SỐNG Thưa Quư Vị, Trước hết chúng tôi xin chân thành cảm ơn quư vị Mục sư và anh chị em đă cầu nguyện, ủng hộ tài chánh, gửi tin tức, bài giảng, biên khảo ... cho Đặc San TIN&SỐNG. Chúng tôi mong nhận được từ quư Mục sư và Anh Chị Em những sáng tác, bài giảng, biên khảo, thơ, truyện ngắn, bài làm chứng, những tin tức sinh hoạt của HT và h́nh ảnh cho đặc san Tin & Sống. Xin quư vị gửi bài qua email và dùng font chữ Việt Unicode. Tinsong@gmail.com or nguyen.jenkins@sbcglobal.net Tel (408) 246-5457 Kính chúc quư vị luôn được Chúa ban một đời sống sung măn, phước hạnh trong Chúa Ba Ngôi. Trong t́nh yêu của Đấng Christ, Mục sư Nguyên Công Văn TIN & SỐNG PO BOX 700354 SAN JOSE CA 95170 Tel: 408-246-5457 LIÊN HỮU TIN LÀNH BÁP-TÍT VIỆT
NAM Đào Tạo Môn Đệ Trang Bị Lănh Đệ Chương Tŕnh Học Hội Luận Truyền H́nh (Video-Conferencing)Tại 5 Trung Tâm:
Dallas Houston - Memphis (hiện tại) Nam California New
Orleans Khóa Mùa Xuân khai giảng vào đầu tháng 2-2008 các chương tŕnh:
Viện Thần Học Báp-tít Việt Nam hợp tác với Truett Baptist Theological Seminary, và Seminary Extension (Chương Tŕnh Thần Học Nới Rộng của sáu Đại Chủng Viện Báp-Tít Hoa Kỳ) dạy và cấp các văn bằng Cao Đẳng và Chứng Chỉ. Viện Thần Học Báp-Tít Việt Nam sẽ mở các khóa Hội Thảo & Huấn Luyện sau đây: "Hội Thánh Lành Mạnh - Đào Tạo Môn Đệ - Hôn Nhây: & Gia Đ́nh - Tín Hữu Lănh Đạo Hội Thánh - Mục Vụ Thiếu Nhi"... cho các vùng: Đông Bắc, Đông Nam, Tây Bắc, Tây Nam Hoa Kỳ để tu nghiệp, trang bị cho các Mục sư, tín hữu lănh đạo tại các hội thánh địa phương.”……….. Tất cả các chi tiết về các chương tŕnh nêu trên xin liên lạc:
Ông Nguyễn Văn Bạch. Điện thoại: 972-567-3356 E-mail: vbtimobile@sbcglobal.net |
Ngày 10 tháng 10 năm 2007
Kính gởi:
-
Quư Mục sư Quản
nhiệm, Mục sư Phụ tá
-
Quư Lănh đạo Hội
Thánh
-
Cùng Con Dân Chúa khắp
nơi
Hội Thánh Baptist T́nh Thương (Agape Baptist Church) là một Hội Thánh Baptist Việt Nam duy nhất trong tiểu bang Washington chưa có cơ sở nhà thờ. Được Chúa cho phép chính thức thành lập vào tháng 05 năm 2005, Hội Thánh luôn t́m ư Chúa về việc xây dựng cơ sở. Cảm tạ ơn Chúa đang mở đường để Hội Thánh mua một cơ sở bao gồm một căn nhà và một pḥng để dùng thờ phượng với kích thước 40x70 (2,800sq feet) trên một mănh đất bằng phẳng 1.08 acre ngay trong thành phố Renton. Giá mua cơ sở này là $575,000.00 cộng với số tiền dự trù để ngăn pḥng và mua thiết bị khoảng $80,000.
Hội Thánh có được 20% down payment số tiền c̣n lại sẽ vay ngân hàng.
Rất mong quư Hội Thánh khắp nơi cầu nguyện cho chúng tôi để việc mua và xây dựng cơ sở được diễn ra trong ư Chúa. Nếu cá nhân hay Hội Thánh quư vị muốn góp phần vào việc xây dựng cơ sở này, xin vui ḷng gởi sự yểm trợ đến: Agape Baptist Church 1032, Edmonds Ave. NE., Renton, WA 98056.
Mọi chi tiết vui ḷng liên lạc với trưởng ban xây dựng đền thờ Dr. Tiến Lê 253-813-1655 hay Mục sư Phan Phước Lành 206-240-2605, email: Phan1010@hotmail.com.
Thân ái trong Chúa Cứu Thế Giê-su,
Christian Phan
Phước Lành
Mục sư Quản
Nhiệm Hội Thánh
LIÊN
LẠC
BAN
CHẤP HÀNH LIÊN HỮU
|
|||
|
|
|
|
|
Đặc San
TIN VÀ SỐNG
Chủ
Biên: MS Nguyễn Công Văn |
Bài
viết, thông báo hay tin tức cho bản tin thông
công xin quư vị gởi về trước ngày 10
hằng tháng. |
||
|
TRƯỜNG
THẦN HỌC |
CƠ
QUAN TRUYỀN GIÁO
|
CƠ
QUAN XUẤT BẢN
|
|
|
|
|
|
LIÊN ĐOÀN |
LIÊN ĐOÀN PHỤ
NỮ |
LIÊN ĐOÀN THANH NIÊN |
|
|
|
|
Ước Mơ Thành Sự Thật
Tôi đă từng mơ ước có một ngày, chỉ một ngày thôi, tôi được đi khỏi nhà. Không nấu ăn, không dọn dẹp, không giặt đồ, không thay tả, không đút cho con ăn, không dạy đàn, không đi chợ, không làm ǵ cả … Chỉ nằm, nghỉ ngơi, không làm ǵ hết… chỉ một ngày thôi!
Chúa biết rơ nỗi mong ước của tôi, và tuần rồi, Chúa cho tôi không phải chỉ một ngày, mà là hai ngày.
Tôi đến một chỗ, ở đó hai ngày. Tôi được nằm trên một cái giường thật êm, và chẳng làm ǵ cả. Tôi không phải nấu ăn, không dọn dẹp, không giặt đồ… không phải làm những việc mà tôi đă từng mong ước. Mỗi ngày ba lần, có người đem thức ăn đến cho tôi. Ở nhà, tôi chưa bao giờ có được 1 tiếng đồng hồ để ngồi trên TV. Nhưng ở đây, tôi có thể xem TV bất cứ lúc nào. Tôi có th́ giờ đọc Kinh Thánh, đọc sách báo, bao lâu tùy ư. Tôi có thể ngủ lúc nào tôi muốn. Nếu tôi cần ǵ, chỉ cần bấm nút một cái là có người vào ngay và hỏi: “Chị cần tôi giúp ǵ thế?” Đến cả khi tôi muốn đi tắm, có người đến gội đầu cho tôi nữa. Nếu tôi nhớ con, tôi chỉ cần gọi điện thoại th́ có người đem con vào. Sau khi ôm hôn mẹ xong, các con đi ra, để th́ giờ yên lặng cho tôi…
Vâng, tôi được hai ngày thật là tuyệt vời ở chỗ đó. Bạn có muốn biết tên của chỗ đó không? Đó là bệnh viện Wesley ở Wichita, Kansas. Tôi được đưa vào pḥng cấp cứu đêm 911. Bác sĩ t́m thấy một chỗ loét trong bao tử của tôi, khoảng chừng 2cm. Bởi v́ lượng hemoglobin trong máu của tôi bị xuống quá thấp (người b́nh thường từ 12-16, c̣n tôi bị xuống 7 trong ngày hôm ấy), cho nên tôi phải bị chuyền hai bịch máu và gần 3 bịch nước biển. Tôi trở về nhà thứ năm tuần rồi, tức ngày 13/9/07.
Cảm tạ Chúa đă ban cho tôi hai ngày thật là tuyệt vời. Ngày mà tôi vào bệnh viện là ngày mà một người bạn từ Florida đến thăm chúng tôi. Chị có ư định này từ mấy tháng trước đó. Tôi dự định sẽ nấu một món ăn đặc biệt để đăi chị, và sẽ đưa chị đi thăm ḷng ṿng thành phố. Nhưng suốt thời gian tôi nằm bệnh viện (và những ngày sau đó), chị ở nhà tôi, nấu ăn, và giúp dọn dẹp nhà cửa cho tôi. Bên cạnh đó, Chúa cho các con cái Chúa trong hội thánh thăm viếng và bày tỏ t́nh yêu thương và sự lo lắng cho tôi. Họ nấu thức ăn, mua quà, hoa… làm tôi thật cảm động.
Mỗi lần nghĩ đến những ngày tại bệnh viện, tôi vô cùng biết ơn Chúa. Chúa biết trước những điều sẽ xảy đến cho tôi, và Ngài đă chuẩn bị tất cả. Thật không có ǵ vui sướng hơn khi biết cuộc đời ḿnh trong bàn tay Chúa.
Chỉ có một điều mà tôi không thích trong hai ngày này là bị lấy máu nhiều lần. Cứ mỗi lần bị kim chích vào, đau ghê lắm!
Nguyễn Đặng Thu Vân
Điểm Sách – Cơ Đốc Giáo Thay Đổi Thế Giới
(How Christianity Changed the World, by Alvin J. Schmidt)
![]()
Bà Đào Văn Chinh
Mục Đích Của Sách:
· Tra cứu và dẫn chứng ảnh hưởng của Cơ Đốc Giáo trên thế giới hơn 2000 năm nay
· Cho thấy ảnh hưởng của Chúa trong đời sống cá nhân và trong sinh hoạt tập thể
· Cảnh cáo văn hóa hiện tại đang làm lu mờ ảnh hưởng Chúa Giê-xu trong xă hội Tây phưong
Sứ Điệp Của Sách:
Chúa Giê-xu Christ, sự giáng sinh, sự sống, sự chết, và sự phục sinh đă ảnh hưởng sâu đậm trên đời sống cả nhân loại. Qua Chúa, xă hội và văn minh Tây phương đạt đến giá trị cao mà con người có được ngày nay.
Tám Điểm Chính:
Chúa Giê-xu ảnh hưởng sâu đậm trên:
· Sự biến đổi con người.
· Giá trị của đời sống.
· Tương trợ, thương xót, bệnh viện, y tế.
· Giáo dục.
· Độc lập và công lư, lao động và tự do kinh tế.
· Khoa học.
· Nghệ thuật, kiến trúc, văn chương, âm nhạc.
· Ngày lễ, chữ dùng, kư hiệu, thành ngữ
I. Sự Biến Đổi Con Người:
“Dựa vào chứng cớ lịch sử, tôi hoàn toàn tin tưởng là Chúa Giê-xu không chỉ đi trên các đường ṃn xứ Palestine để đau khổ rồi chết, và sống lại từ trong cơi chết, nhưng Ngài đă tụ họp chung quanh Ngài một nhóm môn đệ. Những môn đệ nầy đă đi tản lạc khắp Châu Âu và đă gieo rắc một nền văn minh cao, từ đó con người được hưởng cho đến ngày nay.”
Họ là những người Do Thái b́nh thường, vài người làm nghề đánh cá, trừ một người thâu thuế; hầu hết đều ở giai cấp thấp trong xă hội thời bấy giờ. Trong số họ có người th́ tự tin, người th́ muốn người khác để ư đến ḿnh, người lại có bản tính nghi ngờ và người th́ buồn bă. Chính những cá nhân bất toàn nầy đă v́ Chúa Giê-xu Christ, cuộc đời họ đă được biến đổi và họ biệt riêng đời sống ḿnh ra để thay đổi xă hội, chính trị, kinh tế và văn hóa. Sự thay đổi nầy ảnh hưởng trên đời sống nhân loại cho đến ngày nay. Chưa kể, họ là những người đă ngủ say thay v́ an ủi Chúa Giê-xu trong đêm Ngài bị nộp ở vườn Ghết-sê-ma-nê. Phi-e-rơ, người rất tự tin, đă chối Chúa ba lần. Khi Chúa Giê-xu bị đóng đinh chỉ có Giăng bên cạnh Chúa, ngoài ra những môn đồ khác đă trốn trong sự sợ hăi. Khi Chúa chết, đối với môn đồ lúc đó những kinh nghiệm giữa họ và Chúa đă qua rồi và sự sợ hăi đang phủ trùm trên đời sống họ. Họ đă sống gần Chúa ba năm, nghe Chúa dạy, nhưng họ lại quên lời Ngài: “Con người phải chịu nhiều điều khốn khổ, phải bị các trưởng lăo, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo bỏ ra, phải bị giết, ngày thứ ba phải sống lại” (Lu-ca 9: 22)
Đến ngày thứ ba, khi các người đàn bà đến thăm mộ th́ thấy ngôi mộ trống. Chúa xuất hiện với Ma-ri, sau đó với mười môn đồ trong một pḥng đóng kín cửa. Thô-ma, không có mặt ở đó, ông không tin là Chúa đă sống lại, ông muốn thấy một chứng cớ, muốn chạm vào ḷng bàn tay và sườn của Chúa. Tám ngày sau đó, lúc Thô-ma hiện diện, Chúa lại xuất hiện lần nữa và Ngài bảo Thô-ma sờ tay vào ḷng bàn tay và hông Ngài. Khi Thô-ma chạm vào Chúa th́ ông khóc, “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!” (Giăng 20:28).
“Sự ăn năn của Thô-ma lúc nầy là điểm nổi bật nhất trong toàn bộ Kinh Thánh. Chúa Giê-xu đă sống lại nầy không phải chỉ là người mà cũng chính là Đức Chúa Trời.”
Chúa đă xuất hiện ít nhất 20 lần nữa. Ngài bảo đảm với môn đồ rằng Ngài không phải chỉ là thần linh thôi, mà c̣n là xương và thịt nữa. Ngài ăn với họ. Cơ thể bằng xương, bằng thịt của Chúa sống lại đă biến đổi các môn đồ từ sợ hăi đến vững vàng, bảo đảm; từ nghi ngờ đến chắc chắn. Bấy giờ họ hiểu lời Chúa phán trước khi Ngài chịu đóng đinh trên thập tự giá, “Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta th́ sẽ sống, mặc dầu đă chết rồi. C̣n ai sống mà tin ta th́ không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng? (Giăng 11:25-26)” và “Đây là ư muốn của Cha ta, phàm ai nh́n Con và tin Con, th́ được sự sống đời đời; c̣n ta, ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt.” (Giăng 6:40)
Họ hiểu cách rơ ràng là một ngày nào đó những kẻ tin Chúa và tin sự sống lại của Chúa cũng sẽ được sống lại và ở với Ngài cho đến đời đời.
Họ hiểu rằng họ đă được biến đổi, và bởi sự biến đổi đó họ được khuyến khích để rao truyền sứ điệp nầy cho toàn thế gian. Họ không c̣n sợ hăi. Nhiều năm sau đó, họ bị nhà cầm quyền La Mă đe dọa. Để trả lời cho sự đe dọa nầy, Phi-e-rơ và Giăng đă quả quyết: “V́, về phần chúng tôi, không thể không nói về những điều ḿnh đă thấy và nghe” (Công-vụ 4:20). Họ đă sống qua sự kiện lịch sử nầy và sẵn ḷng chết để chia xẻ nó. Chỉ trừ Giăng, c̣n lại các sứ đồ khác đă chết v́ làm chứng cho Chúa. Quyền năng biến đổi đời sống con người của Chúa Giê-xu không ngừng nơi các sứ đồ. Qua sự hiện diện của Chúa, đời sống các sứ đồ và nhiều tín nhân khác nữa đă được biến đổi. Họ đă để lại chứng tích trong lịch sử. Qua đời sống của Ê-tiên, Gia-cơ và Phao-lô, hằng trăm, hàng ngàn Cơ Đốc Nhân được cũng cố niềm tin dù họ bị thử thách trong khoảng ba thế kỷ sau sự chết của Chúa. Qua các triều đại của Nero (54-68) Domitian (81-96) Antonius Pius (138-161) Marcus Aurelus (161-80 A.D) Valerian (253-60 A.D) và nhiều triều đại khác nhiều con cái Chúa đă bị ngược đăi, hành hạ và bị giết.
Ban đầu, Cơ Đốc Nhân không hiện diện để thay đổi thế giới, nhưng thế giới đă chịu ảnh hưởng do những thành quả của Cơ Đốc Nhân. Họ đă từ khước việc thờ h́nh tượng và lối sống vô luân lư của xă hội Hy Lạp – La Mă. Họ hiểu rằng Chúa Giê-xu không hứa hẹn cho họ một cuộc sống dễ dàng, không đau khổ. Trái lại, Chúa đă tiên đoán là họ sẽ bị ghen ghét v́ danh Ngài. Con cái Chúa tiếp tục biến đổi đời sống sau kỷ nguyên Tân Ước. Chẳng hạn như John Hus, Martin Luther, Johann Sebastian Bach, William Wilberforce, David Livingstone, Dietrich Bonhoeffer và C. S. Lewis. Những người nầy đă giúp cho thế giới thành một nơi văn minh và có t́nh người. Giống như các Cơ Đốc Nhân thời trước họ đă sống theo lời Chúa Giê-xu dạy: “Sự sáng các ngươi hăy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời.” (Ma-thi-ơ 5:16)
II. Giá Trị Của Đời Sống:
Thánh hóa sự sống
Những Cơ Đốc Nhân đầu tiên bàng hoàng trước giá trị thấp của con người dưới triều đại Hy Lạp - La Mă. Con cái Chúa tin rằng con người được dựng nên theo h́nh ảnh Đức Chúa Trời (Sáng-thế-kư 1:27). Đó là vinh quang của sự sáng tạo. Đời sống của nhân loại phải được bảo vệ và tôn trọng bất kỳ dưới h́nh thức nào. Con cái Chúa đă tích cực chống đối sự vô luân của các triều đại nầy về những vấn đề như giết trẻ con, ngược đăi trẻ con, phá thai, tế thần.
Những trẻ con sinh ra không được b́nh thường th́ bị giết, các bé gái thường là nạn nhân. Cách cư xử nầy không chỉ ở triều đại Hy Lạp - La Mă mà rất thông thường ở những xứ Ấn Độ, Trung Hoa và Nhật Bản. Điều nầy cũng xảy ra ở trong miền rừng sâu của Ba Tây, trong vùng người Eskimo, nhiều vùng ở Phi Châu và cũng xảy ra ở Châu Mỹ.
Cơ đốc nhân đầu tiên phản đối việc giết hài nhi căn cứ vào điều răn của Chúa “Các ngươi chớ giết người”. Phản ứng của họ theo lời của Phao Lô, được viết ra không lâu trước khi Phao Lô bị Nero hành quyết “Đừng làm theo đời nầy, nhưng hăy biến hóa trước sự đổi mới của tâm thần ḿnh, để thử cho biết ư muốn tốt lành, đẹp ḷng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào.” (Rô-ma 12:2)
Nếu những đứa bé được sanh ra ngoài sự mong mỏi của cha mẹ, th́ cha mẹ thường ngược đăi các trẻ con nầy. Cơ Đốc Nhân không chỉ lên án hành vi ngược đăi trẻ thơ, khi có điều kiện họ c̣n đem những trẻ em kém may mắn nầy về nhà nuôi dưỡng. Măc dù họ bị bắt bớ trầm trọng, nhưng họ không ngừng nêu cao giá trị và sự thánh khiết của con người. Phải đến nửa thế kỷ sau, khoảng năm 374, đến thời đại Valentine, vị vua chịu ảnh hưởng của Bishop Basil vùng Cáp Ba Đốc, th́ việc giết hài nhi và ngược đăi trẻ con mới bị coi là phạm pháp.
Phá thai cũng rất thông thường trong xă hội Hy Lạp-La Mă thời bấy giờ v́ gia đ́nh không muốn có con cái. Trước khi Chúa Giê-xu ra đời, những triết gia như Plato, Aristote và Celsus đă công nhận hành động phá thai. Plato đă diễn tả tư tưởng “Đó là quyền của thành phố cho phép đàn bà xin được phá thai để tránh nạn quá đông đúc (Republic 5.461)” Cơ Đốc Nhân đầu tiên tin tưởng vào sự thánh khiết của con người, kể cả lúc c̣n trong ḷng me.
“Hội thánh đầu tiên chống nạn phá thai, giết hài nhi và ngược đăi trẻ con, đó là điểm chính trong sự thiết lập nhân quyền của xă hội Tây Phương. Sự thánh khiết của sinh mạng, ngoại trừ việc phá thai, vẫn c̣n tồn tại cho đến ngày nay.”
Sự giết chóc trong những tṛ chơi giác đấu ngày xưa rất thông thường, Nhưng với ảnh hưởng của đạo Chúa, những tṛ chơi nầy không c̣n nữa.
Luân lư về luyến ái (Sexual Morality)
Các Cơ Đốc Nhân đầu tiên đă chống đối việc luyến ái vô luân của thời đại Hy Lạp - La Mă. Họ được thúc giục bởi lời Chúa Giê-xu “Nếu các ngươi yêu mến ta, hăy vâng giữ lời răng của ta” (Giăng 14:15) và một trong mười điều răng của Chúa là “Các ngươi chớ phạm tội tà dâm.” V́ vậy, họ tuyệt đối không chấp nhận những hành vi luyến ái vô luân. Cũng v́ vậy mà họ lại càng bị bắt bớ và ngược đăi.
“Bởi chống đối việc luyến ái vô luân của thời đại Hy Lạp – La Mă, cho dù đó là hành dâm, đồng tính luyến ái, luyến ái trẻ con …và bày tỏ luyến ái đẹp ḷng Chúa, nên cơ đốc nhân đă nâng cao luân lư. Đó là một trong những góp phần chính yếu vào nền văn minh nhân loại. Sự góp phần mà nhiều Cơ Đốc Nhân ngày nay (khoảng 83 phần trăm của dân Mỹ) không c̣n mến chuộng, họ có vẻ muốn trở lại con đường luyến ái thời cổ xưa.”
Đàn bà được tự do và trọng đăi
Như chúng ta thấy ngày nay, ở những xứ theo Hồi Giáo trong nhiều thế kỷ, đàn bà không được tự do và trọng đăi. Thời cổ xưa ở A-thên - Hy Lạp, đàn bà cũng chịu chung số phận. Họ không được rời nhà nếu không có đàn ông đi cùng. Họ không được ăn chung hay sinh hoạt với khách của chồng nếu khách là đàn ông. Đàn bà bị kỳ thị ngay từ khi c̣n là trẻ thơ. Nhiều bé gái đă bị giết sau khi sanh một thời gian ngắn. Nhiều em c̣n sống không được vào trường học. Suốt đời của họ, đàn bà hầu như không được phép nói chuyện trước đám đông và được khuyến khích nên yên lặng ở nhà. Đàn bà La Mă được tự do hơn nhưng không có cơ hội như đàn ông.
Trái lại, qua sự dạy dỗ và việc làm của Chúa, Ngài đă nâng cao địa vị của đàn bà. “Bởi nói và làm, Chúa đă đi ngược lại quan niệm xưa cho rằng đàn bà là một thành phần kém thông minh trong xă hội. Chúa đă từng phán: “c̣n ta đă đến, hầu cho chiên được sự sống và được sự sống dư dật” (Giăng 10:10b). Nếu có nhóm người nào cần đời sống phong phú, về cả hai phương diện tinh thần và xă hội, th́ chính là những phụ nữ vào thời Chúa cũng như thời nay.
Chúa Giê-xu đi ngược lại văn hóa thường t́nh, Ngài chấp nhận và quư trọng đàn bà như chúng ta thấy trong mẫu chuyện người đàn bà Sa-ma-ri (Giăng 4:5-29), chuyện giữa Ma-ri và Ma-thê (Lu-ca 10:38-42). Lời Ngài phán với Ma-thê trong (Giăng 11:25-26) và sự xuất hiện của Ngài cùng mấy người đàn bà sau khi Ngài sống lại (Ma-thi-ơ 28:10). Giáo hội Apostolic đă chấp nhận phụ nữ trong vai tṛ lănh đạo như đă được thấy trong ví dụ của A-phi-ra (Phi-lê-môn 2), Nym-pha (Cô-lô-se 4:15), Prissila (1Cô-rin-tô 16:19) và Phoebe (Rô-ma 16:1-2)
Tuy nhiên sau thời Apostolic, khoảng 150 năm sau Chúa, nhiều nhà lănh đạo trong hội thánh đă không c̣n trọng dụng phụ nữ. Điều nầy trái với sự dạy dỗ của Chúa và việc làm của Ngài. Dầu sao đi nữa th́ đường lối của Chúa vẫn thắng hơn, cho nên trong văn hóa Tây Phương, phụ nữ được tự do và được quư trọng. Họ được đăi ngộ như một đơn vị độc lập chứ không phải là vật sở hữu. Họ có quyền coi sóc tài sản, chăm sóc và dạy dỗ con cái. Họ được quyền chọn người để kết hôn. Mặc dầu Chúa và các môn đệ Ngài không chủ trương phụ nữ phải làm cách mạng, nhưng các môn đệ Ngài đă làm gương qua sự cư xử và quư trọng đàn bà, cũng như bênh vực quyền lợi và tự do của họ.
Chống đối nô lệ
Sự chống đối và băi bỏ nô lệ là căn bản trong sự dạy dỗ của Cơ Đốc Giáo buổi ban đầu. Vào thời Chúa Giê-xu, 75 phần trăm dân số thời bấy giờ ở A-thên và hơn phân nửa dân số ở La Mă là nô lệ. Trong thơ tín gửi cho người Ga-la-ti, Phao lô đă dạy Phi-lê-môn là không nên giữ Ô-nê-si làm nô lệ, mà hăy đối xử với Ô-nê-si như là anh em. Phao-lô nói với người Ga-la-ti là “Tại đây không c̣n chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc; không c̣n người tôi mọi hoặc người tự chủ; không c̣n đờn ông hoặc đờn bà; v́ trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em thảy đều làm một” (Ga-la-ti 3:28). Việc chống đối nô lệ không được phổ thông trong thời Hy Lạp-La Mă, hoặc ở Anh Quốc hoặc Mỹ Quốc trong khoảng năm 1800. Qua lịch sử, chúng ta thấy Cơ Đốc Giáo đă hết sức cương quyết trong việc giải phóng nô lệ.
“Đầu thế kỷ thứ tư, Lactantuis trong Devine Institute cho rằng trong mắt Chúa không có nô lệ. Thánh Augustine (354-430) xem nô lệ như là sản phẩm của tội lỗi và chống nghich với chương tŕnh của Chúa. (The City of God 19.15). Thánh Chrysostom, vào thê kỷ thứ tư, đă giảng rằng khi Chúa đến Chúa vô hiệu hóa nô lệ. Theo ông, “Không có nô lệ trong Chúa Giê-xu, v́ vậy con người không cần phải có nô lệ. Mua họ về, dạy họ khả năng để có thể tự săn sóc chính ḿnh, sau đó hăy cho họ tự do” (Homily 40 on I cô-rin-tô 10). Dưới sự lănh đạo của William Wilberforce, đồng thời qua việc làm và sự can đảm của ông, chế độ nô lệ đă chấm dứt ở những thuộc địa của Anh Quốc. Vào ngày 26, Tháng 7 Năm 1833, vài ngày trước khi ông qua đời, Wilberforce đă nhận được tin là (Parliament) quốc hội đă thông qua đạo luật băi bỏ nô lệ, đạo luật nầy đă giải phóng 700,000 nô lệ lúc bấy giờ.
Ở Mỹ, nô lệ c̣n tiếp tục cho đến giữa thế kỷ 19. Nhiều người can đảm đă bị bắn chỉ v́ họ đă cho học tṛ da đen vào đại học, Harriet Beecher Stowe đă cho xuất bản “Uncle Tom’s Cabin”, John Hersey xuất bản “Appeal to Christian on Subject of Slavery”. Julia Ward Howe đă xuất bản “Battle Hymn of the Republic” và vớí sự cộng tác của nhiều người khác, họ đă đấu tranh, đă chết để chấm dứt chế độ nô lệ. Cuối cùng là Abaraham Lincoln, đă chính thức chấm dứt chế độ nô lệ ở Mỹ vào năm 1863.
III. Tương Trợ, Thương Xót, Bệnh Viện, Y Tế:
T́nh Tương trợ
Vào thời đại Hy Lạp-La Mă, việc săn sóc người nghèo và già cả hoặc người sắp chết là việc hiếm có. Thông thường, con người thỉnh thoảng cũng cho, nhưng thường mong được trả lại. Nhưng trong xă hội cơ đốc, con cái Chúa dâng tiền để giúp đỡ những người nghèo khổ hoặc đau yếu mà không bao giờ mong được trả lại. Cơ đốc nhân dâng hiến v́ ḷng yêu thương: “đây là t́nh thương: không phải chúng ta yêu Chúa, nhưng chính Chúa đă yêu chúng ta và cho con độc sanh của Ngài chết cho tội chúng ta. Bạn yêu dấu, v́ Chúa yêu chúng ta nên chúng ta cũng yêu lẫn nhau” (I Giăng 4:10-11) và Phao-lô có dạy: “Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng ḿnh, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa” (Phi-líp 2:4).
Ḷng Thương xót
Thời xa xưa, không mấy khi người ta thương xót chỉ v́ điều nầy đi ngược lại sự dạy dỗ của một số nhà triết học. Plato và nhiều người khác cho rằng nên để cho người nghèo chết nếu họ không c̣n làm việc được. Xă hội Hy Lạp – La Mă cho rằng những người nghèo khổ, đói kém, bệnh tật không đáng sống.
Chúa Giê-xu chứng minh ngược lại “Ngài ở thuyền bước lên, thấy đoàn dân đông đúc, động ḷng thương xót, mà chữa cho kẻ bịnh được lành” (Ma-thi-ơ 14:14). Nghe theo sự dạy dỗ của Chúa, những Cơ Đốc Nhân đầu tiên t́m kiếm và thương xót những người đau yếu, sắp chết mà không hề nghĩ đến việc họ sẽ trả lại. Họ không những tử tế với người đau yếu, sắp chết mà c̣n tử tế với người già và trẻ mồ côi.
Sự tương trợ và thương xót vẫn c̣n tiếp tục cho đến ngày nay. Cơ Đốc Nhân giúp đỡ một cách kín đáo hoặc qua các cơ quan thiện nguyện. Trong những trường hợp nầy, người được trợ giúp thường không biết là sự tài trợ họ được là do ảnh hưởng của Cơ Đốc Giáo.
“Nói tóm lại, mỗi khi làm việc xă hội, tín nhân luôn nhân danh Chúa mà làm. V́ chính Chúa đă hà hơi trên những người theo Ngài để cho và giúp đỡ những kẻ kém may mắn, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giai cấp. Cơ Đốc Nhân đầu tiên đă làm gương cho những người theo sau ḿnh. Gương mẫu nầy được thế giới bắt chước và làm theo.”
Bệnh viện – Y tế
Trong Ma-thi-ơ 25:45, Chúa Giê-xu đă phán “Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho ta nữa.” Cơ đốc nhân theo lời dạy của Chúa chống lại nạn giết hài nhi, phá thai, ngược đăi trẻ con. Họ săn sóc người đau yếu. Họ theo Chúa khi Ngài chữa bịnh cho người mù, người bại, người điếc, người cùi... Mỗi khi Chúa chữa bịnh, Ngài luôn chú trọng đến t́nh trạng thuộc linh của người được chữa lành. Điều nầy trái hẳn với quan niệm thời Hy Lạp – La Mă. Dionysius, một giám mục vào thế kỷ thứ ba, đă mô tả lại t́nh trạng nầy khi những người theo họ bị bịnh “Họ quăng những người bắt đầu bị đau và tránh xa những người nầy cho dù họ là bạn bè thân thiết, và họ để những người nầy bên vệ đường nửa sống nửa chết, đến khi những người nầy chết lại không được chôn cất” (Works of Dionysius, Epistle 12.5)
Những Cơ Đốc Nhân đầu tiên v́ bị bắt bớ cho nên họ chỉ săn sóc những người đau khi họ gặp được. Măi cho đến năm 369 họ mới thành lập một bệnh viện. Chứng tích c̣n lại cho biết là bệnh viện nầy có cả đơn vị phục hồi chức năng làm việc và những lớp tập tành giúp đỡ bệnh nhân sinh hoạt trong thời gian phục hồi sức khỏe. Điều nầy cho thấy quan niệm về đời sống con người rất cao theo tinh thần của Chúa qua những người theo Ngài.
Cơ đốc giáo cũng bắt đầu xây dựng những viện tâm thần, viện dưởng lăo và hội Hồng Thập Tự. Fielding Garrison, một bác sĩ, đồng thời cũng là một sử gia về y tế nhận định: “Thành công nổi bật của y khoa trong thời trung cổ là việc thành lập bệnh viện và nơi chăm sóc người đau yếu, khởi nguồn từ sự dạy dỗ của Đấng Christ”
IV. Giáo Dục:
Chúa Giê-xu là vị giáo sư danh tiếng toàn cầu. Ngài đă dạy dỗ nhiều người hầu cho họ trở thành người dạy dỗ người khác. Ngài dạy các môn đồ “Vậy, hăy đi dạy dỗ muôn dân, hăy nhơn danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm phép báp têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đă truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.” (Ma-thi-ơ 28:19-20) Họ tuân theo lời Chúa một cách nghiêm chỉnh như Lu-ca đă chép trong công vụ “Ngày nào cũng vậy, tại trong đền thờ hoặc từng nhà, sứ đồ cứ dạy dỗ rao truyền măi về Tin Lành của Đức Chúa Jêsus, tức là Đấng Christ.” (Công -vụ 5:42)
Sự dạy dỗ trên đây vẫn cứ tiếp tục sau khi các sứ đồ qua đời. Năm 150, Justin Martyr thành lập trường dạy lời Chúa cho những tín nhân tân ṭng (Catechetical school) ở Ê Phê Sô và La Mă. Sau đó những trường nầy dạy đọc, viết và thêm vào các môn học khác. Những trường nầy theo sát sự dạy dỗ của Chúa nên đă gặp nhiều khó khăn lúc ban đầu v́ giáo sư cộng tác là những người có quan niệm của xă hội đương thời. Các trường nầy có học sinh cả nam lẫn nữ, không phân biệt giai cấp và chủng tộc. Điều nầy rất hiếm trong văn hóa thời bấy giờ.
Khoảng giữa năm 1500, Martin Luther and John Calvin đă thuyết phục nhà cầm quyền để dùng thuế cho dịch vụ giáo dục. Đến khoảng năm 1700 giáo dục đă mở rộng cho người điếc và khoảng năm1800 th́ có những trường học cho người mù.
Văn hóa của thời đại Hy Lạp – La Mă có triết lư về giáo dục cao nhưng họ chưa có trụ sở thường trực hay là thư viện. Những viện đại học đầu tiên đều là một phần trong chủng viện. Thư viện đầu tiên do Benedictine thành lập vào năm 528 trong chủng viện ở Monte Cassino thuộc nước Ư. Nhiều chủng viện khác nữa được dựng nên tại những địa điểm khác nhau. Tất cả đă đem lại giá trị lớn cho văn chương, đặc biệt là những tài liệu cổ xưa. Thư viện Benedictine là thư viện đầu tiên đă thâu thập sách và nhiều bản thảo kinh văn (manuscripts).
Mặc dù thư viện và chủng viện không phải là đại học toàn khoa, nhưng từ đó mà những đại học toàn khoa được dựng nên khoảng thế kỷ 12 cho đến thế kỷ 13. Nhiều người Mỹ ngày nay không biết rằng tất cả các đại học toàn khoa và đại học trung cấp đă được dựng nên trước Chiến Tranh Cách-mạng (Revolutionary War), đều khởi nguồn từ Cơ Đốc Giáo, chỉ trừ đại học ở Pennsylvania. Trong xă hội văn minh tân tiến Âu Tây ngày nay, rất ít người biết sự góp phần của Cơ Đốc Giáo vào nền giáo dục mà họ rất trân trọng.
V. Độc Lập và Công Lư, Lao Động và Tự Do Kinh Tế:
Độc lập và Công lư
Quan niệm về luật tự nhiên đă mọc rễ trong văn hóa Hy Lạp – La Mă. Luật nầy cho rằng con người có thể căn cứ vào những điều xảy ra trong thiên nhiên hợp lư mà cho rằng đúng hoặc sai. Điều đó đuợc xem như nền tảng của luật lệ trong văn hóa thời bấy giờ. Cơ Đốc Nhân có quan niệm khác. Họ tin rằng luật tự nhiên là một phần trong sự sáng tạo của Chúa. Ngài dựng nên vũ trụ và con người một cách trật tự để con người dựa vào đó mà phân biệt đúng hoặc sai. Mười điều răn của Chúa đă cho biết thứ tự của luật lệ.
Tại những quốc gia như Mỹ, nơi mà Cơ Đốc Giáo được tôn trọng, tự do và công lư được cải tiến xa hơn so với những quốc gia không có Cơ Đốc Giáo. Alexis de Tocqueville xét ‘Không có một quốc gia nào trên thế giới trong đó đạo Chúa ảnh hưởng trên linh hồn con người hơn là nước Hoa Kỳ’”
Lao động và tự do kinh tế
Làm việc bằng chân tay không được xem trọng trong văn hóa Hy Lạp – La Mă. Việc làm tay chân được xem như là việc của nô lệ hoặc của những người ở giai cấp thấp. Điều nầy tương phản với quan niệm của cơ đốc nhân. Con cái Chúa quư trọng lao động. Gương mẫu của họ là Chúa Giê-xu. Ngài đă làm thợ mộc. Phao-lô làm nghề may trại để có thêm lợi tức khi ông đi truyền giáo. Quan niệm của Cơ Đốc Giáo không hợp với người La Mă, họ xem thường lao động tay chân. Bởi lẽ đó, con cái Chúa bị bắt bớ càng dữ dội hơn. Thêm vào đó, con cái Chúa đ̣i hỏi phải trả công cho người làm việc theo như lời Chúa Giê-xu dạy “người làm công đáng được tiền lương ḿnh” (Lu-ca 10:7). Trong thơ tín Phao-lô viết cho người Tê-sa-lô-ni-ca, ông đă viết rơ ràng “nếu ai không khứng làm việc, th́ cũng không nên ăn nữa. “ (2Tê-sa-lô-ni-ca 3:10)
Trước Cơ Đốc Giáo, không có giai cấp trung lưu trong văn hóa Hy Lạp – La Mă, chỉ có hai hạng người trong xă hội: giàu hoặc nghèo và người nghèo thường bị làm nô lệ. Tuy nhiên khi Cơ Đốc Giáo có ảnh hưởng mạnh hơn, giai cấp trung lưu bắt đầu ở Âu Châu đă làm cho nạn nghèo đói giảm đi rất nhiều.
Nguyên tắc làm việc mới và sự thạnh vượng (so với t́nh trạng bần cùng trước kia) đă mang lại tự do cho cá nhân, điều mà từ trước đến giờ chưa từng có về phương diện kinh tế, chính trị và xă hội. Ư niệm về quyền sở hửu riêng được thể hiện trong sự tự do mới nầy. Điều răn “ngươi chớ trộm cắp” củng cố quan niệm về quyền sở hửu của con người.
Tự do kinh tế cũng được Chúa Giê-xu dạy dỗ. Trong khi một số con cái Chúa bán hết gia tài điền sản để chia xẻ với những người đang cần, ‘Trong cả Tân ước lẫn Cựu ước không có điểm nào Chúa chối bỏ tự do về kinh tế của con người như là các thể chế fát xít, xă hội, cộng sản. Những thí dụ của Chúa Giê-xu đă đụng đến vấn đề kinh tế và luôn đưa dẫn đến tự do về kinh tế’, chẳng hạn như một người có tự do chọn cách đầu tư hoặc không đầu tư những năng khiếu mà họ được ban cho: “nên tôi sợ mà đi giấu ta-lâng của chúa ở dưới đất; đây nầy, vật của chúa xin trả cho chúa”. (Ma-thi-ơ 25:15)
Sự quư trọng lao động, quan niệm về tự do cá nhân cũng như tự do kinh tế trong văn hóa Âu Tây chính là sản phẩm của Cơ Đốc Giáo.
VI. Khoa Học:
Làm sao có khoa học nếu không có niềm tin nơi Thượng Đế duy nhất và chân thật. Đấng sáng tạo rất hợp lư; con người được dựng nên theo h́nh ảnh của Ngài. V́ vậy con người cũng theo tiến tŕnh hợp lư để học hỏi về sự sáng tạo của Chúa. Chấp nhận điều nầy, những triết gia tin Chúa đă xây dựng những phương thức thí nghiệm, thực hành và chứng minh. Trước thời Chúa Giê-xu, kiến thức được thu thập qua sự suy luận của trí óc; thực nghiệm là công việc của tay chân thuộc về giai cấp thấp nên không được chấp nhận.
Cơ Đốc Nhân đi tiền phong trong lănh vực khoa học. Họ đă phát triển theo nhiều chiều hướng trong sự khám phá. Cơ Đốc Nhân đă tham gia nhiều nhiều b́nh viện khoa học và nghệ thuật, chẳng hạn như về nghệ thuật th́ có sản phẩm của Leonardo da Vinci (1452-1519), về sinh hóa và sinh vật th́ có Andreas Visalius (1514-1564) và Gregor Johan Mendel (1822-1884); về không gian th́ có Nicolaus Copernicus (1473-1543), Tycho Brahe (1546-1601), Johannes Kepler (1571-1630) và Galileo (1564-1642); về vật lư học có Isaac Newton (1642-1727), Gottfied Leibniz (1646-1746), Andre’ Ampere (1775-1836) và Michael Faraday (1791-1867); về hóa học chúng ta thấy những thí nghiệm của Robert Boyle (1627-1691), John Dalton (1766-1844) và George Washington Carver (1864-1943); Y học th́ có sự nghiên cứu của Paracelsus (1493-1541), Ambroise Pare (1509-1590) và Louis Pasteur (1822-1895). Thêm vào những cá nhân kể trên, c̣n nhiều khoa học gia Cơ Đốc đă góp phần trong việc khám phá và nghiên cứu về khoa học mà những công tŕnh nầy đă ảnh hưởng rất lớn trên đời sống nhân loại.
VII. Nghệ Thuật, Kiến Trúc, Văn Chương, Âm Nhạc
Nghệ thuật
Ảnh hưởng của Cơ Đốc Giáo trong nghệ thuật, kiến trúc, văn chương và âm nhạc trong lịch sử thật rơ ràng. Thay vi chú trọng đến “thiên nhiên” như trong thời đại Hy Lạp – La Mă, nghệ thuật của Cơ Đốc Giáo từ lúc khởi đầu cho đến thời trung cổ, thời phục hưng và thời tái phục hưng đều tập trung vào đời sống con người. H́nh ảnh về Chúa, hoặc về Thánh Linh hay về Chúa Giê-xu đều bàng bạc trong những tác phẩm của họ. Thí dụ như “The Expulsion from the garden” của Masaccio, “The last super” của Da Vinci, “Christ with Mary and Martha” của Tintoretto, “Knight, Death and Devil” của Durer, “Christ Bearing the Cross” của Raphael và “Christ Healing the Sick” của Rembrandt. Cơ Đốc Giáo đă góp phần rất lớn vào nghệ thuật.
Kiến trúc
Những cơ đốc nhân đầu tiên đă chịu nhiều đau khổ v́ bị bắt bớ và ngược đăi nên họ đă kiến tạo một số ít sản phẩm kiến trúc trong ba thế kỷ đầu tiên.&nb