Tên.   Nom.


      I. Ðịnh nghĩa.-- "Tên" là cái mà bởi đó người ta nhận biết một người, một chỗ,, hoặc một vật. Trong Kinh Thánh, các tên thường dùng để mô tả về người, về địa vị, về cảnh ngộ quan thiệp đến, về hy vọng ở nơi người, v.v.. Bởi đó "tên" thường khi thay cho người. Trong Công vụ các sứ đồ 1:15; Khải Huyền 3:4 tên chỉ về "người;" so Dân số ký 26:53,55.
       II. Lời trong Cựu Ước và cách dùng.-
       1. Xét chung. Nguyên văn dùng trong Cựu Ước là shem (trên chữ e có dấu -) (cũng là một tên trong ba con trai Nô-ê). Căn nguyên là từ chữ shamah (trên các chữ a có dấu -), nghĩa "đánh đấu." Ngoài sự chỉ người, tên cũng chỉ về danh thơm, tiếng tốt, danh dự, tánh hạnh đã được và bày tỏ, v.v. (Sáng thế ký 6:4; II Sa-mu-ên 7:9,23, v.v.); tên có khi đồng nghĩa với "dân tộc" hoặc "quốc gia" (có thể bị "xóa" tức hủy diệt; Phục truyền luật lệ ký 7:24, v.v.) "nhơn danh" ai mà nói hoặc viết ấy là nhờ quyền người đó (Xuất Ê-díp-tô ký 5:23; I Các vua 21:8, v.v.); đặt tên mình cho một nơi hay một dân chỉ về quyền sở hữu vậy (A-mốt 9:12, v.v.); "nối danh" tức là làm đại diện (Phục truyền luật lệ ký 25:6); "kêu tên," "lấy tên mà gọi," chỉ sự chú ý đặc biệt đến cá nhơn (Xuất Ê-díp-tô ký 31:2; Ê-sai 43:1; 45:3,4). Sáng thế ký 2:19,20 tỏ công nhận sự đồng nhứt giữa tên và vật.
       2. Tên Ðức Chúa Trời.-- Ðây xét lối dùng tên Ðức Chúa Trời có ích lợi. Xem bài TRỜI, ÐỨC CHÚA, Danh xưng. Ngài nhờ Môi-se mà tỏ mình cho dân Y-sơ-ra-ên bởi một tên mới (là tên cùng một lúc chỉ về Ðức Chúa Trời của các tổ phụ họ)--Giê-hô-va hay Yahweh -- tánh cách của danh đó được sẽ bày ra bởi những sự mà Ngài tỏ mình cho họ biết (Xuất Ê-díp-tô ký 3:13-16; 15:2,3). Bởi đó, "tên của Ðức Chúa Trời không phình ra;" đặc tánh Ðức Chúa Trời như đã tỏ trong các cuộc thông công Ngài với dân Ngài, và sự giao tiếp Ngài với họ (Xuất Ê-díp-tô ký 9:16; Giô-suê 7:9; 9:9, v.v.). Danh của Ðức Giê-hô-va được hô trên núi Si-na-i cho Môi-se: "Giê-hô-va! Giê-hô-va! là Ðức Chúa Trời nhơn từ, thương xót," v.v. (Xuất Ê-díp-tô ký 34:6); Danh Ðức Giê-hô-va (được tỏ ra như vậy) là "danh kỷ niệm" (Xuất Ê-díp-tô ký 3:15). Giê-hô-va là Thần có một, không hai, ấy là một phần quan hệ trong danh Ngài nên trong Phục truyền luật lệ ký 6:4, nguyên văn chép là Shema, đồng nghĩa với "hãy nghe," là điều lệ thứ nhứt của đức tin người Y-sơ-ra-ên, dạy cho các con cái, viết trên cột nhà nay còn được xưng ra như là việc thứ nhứt của sự thờ phượng chung hoặc riêng "hai lần một ngày bởi những người trưởng thành Do-thái." Chỗ nào chép Ðức Giê-hô-va thuật lại hoặc đặt danh Ngài cho một nơi (hoặc người) thì tất có Ngài tỏ mình ra ở đó, đặng biệt riêng nơi hoặc người ra thánh cho Ngài (Xuất Ê-díp-tô ký 20:24; I Các vua 8:16). Danh Ngài ở trong thiên sứ của mặt Ngài (Xuất Ê-díp-tô ký 23:20,21); điều gì Ngài làm là "vì danh lớn" Ngài trung tín với tánh cách Ngài tỏ ra, và sự thông công bởi giao ước (II Sử ký 6:32; Thi Thiên 25:11); những việc lớn Ngài làm cũng để "cho biết danh Ngài" (Ê-sai 55:13), Ngài sẽ ban cho dân Ngài một danh mới, "một danh đời đời" (Ê-sai 56:5); được "gọi bằng danh Ðức Giê-hô-va" ấy là làm dân Ngài (II Sử ký 7:14; Ê-sai 43:7); ấy tỏ sự "bảo hộ," v.v. (Ê-sai 63:19; Giê-rê-mi 14:8,9); "cầu khẩn danh Ngài" là thờ phượng Ngài như Ðức Chúa Trời (Sáng thế ký 21:33; 26:25, v.v.); "xưng danh" Ngài là công nhận Ngài (I Các vua 8:33,35); "ái mộ," "ca tụng." Danh Ngài là làm vậy với chính Ngài (Thi Thiên 5:11; 7:17). Rất nhiều lần, nhứt là trong các Thi Thiên, các tiên tri Ê-sai, Giê-rê-mi, "danh" Ðức Chúa Trời thay cho chính Ngài; "quên danh" Ngài tức là lìa bỏ Ngài (Giê-rê-mi 23:27); có chép: "lấy danh Ngài mà thề" (Phục truyền luật lệ ký 6:13); lấy danh Ngài "làm chơi" là "thề dối" (Xuất Ê-díp-tô ký 20:7; Lê-vi ký 19:12); lại chép nhơn danh Ngài "chúc phước" (Phục truyền luật lệ ký 10:8), "rủa sả" (II Các vua 2:24). Trong Lê-vi ký 24:11, thấy chép một người "rủa sả danh Ðức Giê-hô-va" bị ném đá chết.
       II. Lời trong Tân Ước và cách dùng.--
       1. Tánh cách và công việc của người. Trong Tân Ước, chữ "ónoma" cũng có nghĩa để chỉ "tánh nết" hoặc "công việc" của người, xem Ma-thi-ơ 1:21: "Khá đặt tên là Jêsus, vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội," v.v. (Lu-ca 1:31; 2:21; 1:63, "Giăng là tên nó;" cũng so với các tên mới đặt cho Si-môn, Gia-cơ và Giăng, tên mới của Sau-lơ là "Phao-lô.") "Danh" Ðức Chúa Trời cũng có sự quan thiệp với tánh nết Ngài như tỏ trong Cựu Ước (Ma-thi-ơ 6:9; "Cha ơi! xin làm sáng danh Cha;" (Giăng 12:28); danh đó được tỏ bởi Ðấng Christ (Giăng 17:26; so câu 3), danh Chúa Jêsus, như tỏ Ðức Chúa Trời, thế chỗ cho danh Ðức Giê-hô-va trong Cựu Ước (so Gia-cơ 2:7 với Giê-rê-mi 14:9; và xem ở dưới); Ngài được ban cho "danh trên hết mọi danh, hầu cho nghe đến danh Jêsus, mọi đầu gối... thảy đều quì xuống, và mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ là Chúa, mà tôn vinh Ðức Chúa Trời là Ðức Chúa Cha" (Phi-líp 2:9,10 so Ê-sai 45:23).
       "Ấy không phải là danh Jêsus, song là danh của Jêsus" (Lightfoot), tức danh (Giê-hô-va) mà Jêsus nhận lấy; ta thấy trưng dẫn đến Jêsus chỉ là "danh" (Công vụ các sứ đồ 5:41 "xứng đáng chịu nhục vì danh (nguyên văn không có) "Chúa Jêsus;" Gia-cơ 5:14 "nhơn danh;" (Giăng 15:21; II Giăng 7 "vì danh"). Vậy, danh Ðấng Christ cũng đồng nghĩa với chính Ngài (Ma-thi-ơ 10:22; 19:29). Danh đó cũng là một với sự tỏ mình ra của Ngài (Giăng 20:31); bởi vậy, "tin đến danh Ngài," tức là tin Ngài như tỏ ra trong đời sống và công việc Ngài (Giăng 1:12; 2:23). "Nhơn danh (Ðức) Chúa (Trời)" có nghĩa là Ðức Chúa Trời sai đến làm đại diện cho Ngài, bời quyền phép Ngài (Ma-thi-ơ 21:9; 23:39); cũng một lẽ ấy, có chép "nhơn danh Chúa Jêsus mà nói hay dạy" (Công vụ các sứ đồ 4:18; 5:28). "Danh Chúa Jêsus" cũng tiêu biểu cho "phép tắc" và "quyền lực" Ngài (Ma-thi-ơ 7:22; Mác 9:39; Công vụ các sứ đồ 4:7, "bởi quyền lực nào hay là nhơn danh ai mà các ngươi làm điều nầy?") và ấy là trái với sự đuổi quỉ bởi danh hoặc quyền nào khác (Công vụ các sứ đồ 16:18; 19:17). Tin lành của sự cứu rỗi sẽ "nhơn danh Ngài" được rao giảng, tức bởi phép tắc Ngài làm cho có linh nghiệm (Lu-ca 24:47); các tội nhơn được xưng công bình "vì danh Ngài" (Công vụ các sứ đồ 10:43; I Cô-rinh-tô 6:11); tội được tha "nhờ danh Chúa" (I Giăng 2:12); người ta "cầu khẩn danh" Jêsus như đã cầu khẩn danh Giê-hô-va (Công vụ các sứ đồ 9:14,21; so 7:59; Rô-ma 10:13,14).
       Các dân ngoại cầu khẩn danh Chúa tức là bằng lòng làm dân Ngài (Công vụ các sứ đồ 15:17; trích từ A-mốt 9:12 so Rô-ma 1:5), "vững lòng tôn danh" Chúa, tức là trung thành với Ngài như đã tỏ ra (Khải Huyền 2:13; 3:8); "nhơn danh Ngài nhóm nhau lại," "nhơn danh Ngài làm mọi điều," ấy là công nhận Ngài (Ma-thi-ơ 18:20; Cô-lô-se 3:17); "nhơn danh Chúa" hay "cầu khẩn danh Chúa" mà chịu lễ báp-têm (Công vụ các sứ đồ 2:38; 22:16), -- trái với sự chịu lễ báp-têm nhơn danh ai trong I Cô-rinh-tô 1:13, -- tức là cầu khẩn danh Ngài trên tín đồ, xưng người đó thuộc về Ðấng Christ, như người đó công nhận Ngài và đức tin trong Ngài, tức trở nên môn đồ Ngài. Cũng vậy, chịu lễ báp-têm " trong danh Ðức Cha, Ðức Con, và Ðức Thánh Linh," làm tiêu biểu "sự dâng mình" cho Ðức Chúa Trời như Ngài đã được tỏ trong Ðấng Christ.
       "Nhơn danh" có nghĩa "như đại diện" (hoặc vì là), so sánh "vì là tiên tri," "công chính" "môn đồ Chúa" (Ma-thi-ơ 10:41,42 bản Anh cũ); "vì danh ta chịu tiếp một đứa trẻ thể nầy," tức đứa trẻ đó thuộc về Ngài, ấy là chịu tiếp chính Chúa (Ma-thi-ơ 18:5; Mác 9:37; câu 41 là cho môn đồ, "vì các ngươi thuộc về Ðấng Christ," so Lu-ca 9:48; Ma-thi-ơ 18:20; Mác 13:6, "Vì có nhiều người sẽ mạo danh ta mà đến" (Lu-ca 21:8), tức lấy danh ta mà đến.
       2. Quan thiệp với sự cầu nguyện.-- Ý nghĩa danh Jêsus quan thiệp với sự cầu nguyện đáng được chú ý. Nhơn danh Jêsus cầu nguyện, là nhơn danh Ngài mà xin, theo lời hứa Ngài, "Các ngươi nhơn danh ta mà cầu xin điều chi mặc dầu, ta sẽ làm cho" (Giăng 14:13; so 14:14; 15:16; 16:23). "Ðến bây giờ các ngươi chưa từng nhơn danh ta mà cầu xin điều chi hết; hãy cầu xin... hầu cho sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn" (Giăng 16:24), ấy không phải chỉ là thêm lời vào sự cầu nguyện chúng ta (như có khi vô tình đã làm); lời cầu xin mọi điều "nhơn danh Jêsus" hoặc "bởi Jêsus Christ, Chúa chúng ta," song cầu nguyện như mình là đại diện Ngài trên đất, trong chức vụ Ngài, thế cho Ngài, trong tâm tình và với mục đích Ngài; ấy chỉ sự hiệp một với Ðấng Christ, Ngài ở trong ta và ta ở trong Ngài. Nghĩa câu đó là "vì là một với ta, cả đến như ta đã tỏ cho các ngươi." Ấy hiệp với "trong ta" và trong "Ðấng Christ" so Giăng 6:56; 14:20; 15:4 tt; 16:33; so I Giăng 5:20.