ÐÔI DÒNG VỚI BẠN THƠ CƠ-ÐỐC


Tập thơ CA KHÚC TÂM LINH đã được gởi đến bạn kể từ ngày lễ Tạ Ơn (Thanksgiving Day) 1998.  Tôi mong mỏi tập thơ được Chúa sử dụng.  Các bạn tôi, người đã cùng nhọc công với tôi hoàn thành tập thơ đã nỗ lực cầu nguyện và khích lệ tôi thật nhiều.  Vì vậy, tôi lại có dịp gởi đến bạn tập thơ này, VƯỜN HOA TÂM LINH.  Và tôi mời bạn cùng với tôi ca ngợi Chúa.

 "Thơ con, con hát, hát không ngưng
 "Ða-vít đệm đàn, tơ phím rung
 "Hễ còn hơi thở con còn hát
 "Ngợi ca tình Chúa lớn vô cùng.

Có lần tôi nói với một Mục Sư rằng:  "Rất lâu về trước, có thể trên hai chục năm, tôi được nghe một bài giảng của một Mục Sư, nói về cách sắp xếp kỳ diệu của mục lục các sách văn thơ trong Kinh Thánh:  Gióp, Thi Thiên, Châm Ngôn, Truyền Ðạo, Nhã Ca.  Gióp nói về sự thử thách.  Thi Thiên nói về sự cầu nguyện.  Châm Ngôn nói về sự khôn ngoan.  Truyền Ðạo nói về sự hư không.  Nhã Ca nói về tình yêu.  Khi chúng ta bị thử thách trăm bề, chúng ta cầu nguyện, do đó chúng ta có sự khôn ngoan để biết rằng mọi sự đều hư không và chúng ta tìm đến tình yêu đời đời của Chúa."  Tôi chờ đợi một lời tán thưởng của Mục Sư ấy, nhưng tôi chỉ nghe ông nói rất ngắn gọn:  "Thi Thiên nói về sự cầu nguyện, cảm tạ và ngợi khen."  Ðây là một bài học quí báu vô cùng cho tôi.  Cầu nguyện, cảm tạ, và ngợi khen không tách rời ra được.  Ba cụm từ ấy đã gói trọn ý nghĩa đắc thắng rồi.  Khi chúng ta cầu nguyện Chúa với lòng cảm tạ và ngợi khen thì đương nhiên chúng ta thắng, đắc thắng.  Thi tập này là lời cầu nguyện, sự cảm tạ và ngợi khen Chúa.

Trong một bức thư nhận được từ một bậc trưởng thượng mà lòng tôi hằng kính mến, cụ Nguyễn Ðức Hiếu, có nói về bài thơ "Chẳng Là Gì Cả" của tôi như sau:  "Chúa đã ngự trong lòng Tường Lưu rồi, chứ không phải chỉ ở bên cạnh Tường Lưu đâu!  Hãy đổi lại, đổi bên ra trong.  '... Vì tôi biết... trong tôi có Chúa.'  Tôi rất thích bài ca này".  

Tôi xin trích dẫn một đoạn của bài thơ:

 "Tôi biết tôi... chẳng là gì cả
 "Suốt cuộc đời đùa với tay không
 "Nhưng tôi vui, dù vẫn tay không
 "Vì tôi biết... bên tôi có Chúa.

Tôi tự xét mình, biết còn thiếu sót nhiều.  Tôi rất yếu đuối.  Yếu đuối mọi bề.  Bài Thánh Ca "nằm lòng" của tôi là bài "Chúa ơi, cho tôi gần Ngài" (Nearer my God, to Thee) và câu Kinh Thánh rất nên thơ mà tôi ưa thích là:  "Linh hồn tôi đeo theo Chúa; tay hữu Chúa nâng đỡ tôi" (Thi Thiên 63:8).  Tôi tin rằng bạn cũng như tôi, chúng ta rất muốn mình xứng đáng được Chúa ngự mãi mãi trong lòng:  "Vì tôi biết trong tôi có Chúa".  Cầu nguyện, cảm tạ và ngợi khen!  Ðó là mục đích của thi tập này.

Tôi không ngại dùng chữ "tôi" trong thi tập này, vì ai cũng hiểu rằng chữ "tôi" thật đáng ghét, chữ "tôi" không có gì đáng nói cả.  Trái lại, chữ "tôi" của tôi có nhiều điều đáng nói, vì tôi từng đóng vai A-đam, đóng vai Y-sác, đóng vai Giô-na... mà nói chuyện với bạn.

A-đam:   "Nếu tôi là A-đam thì có thể
 "Vườn Ê-đen sẽ đẹp đẽ càng hơn
 "Với quyền hành người cai quản khu vườn
 "Tôi sẽ đốn cái cây gây tội lỗi.
 "Chúa có thấy, Chúa sẽ cười dễ dãi
 "Và khen tôi đã biết cách lo xa
 "Tay trong tay tôi cùng với Ê-va
 "Ra mắt Chúa đàng hoàng không sợ hãi.
  (Nếu tôi là A-đam)

Y-sác:    "Xa xa ngọn núi cao cao vút
 "Chỉ thấy lưng trời mây phủ ngang
 "Cha giắt dao theo, tôi vác củi
 "Dù nặng trên vai, bước rộn ràng.
  (Lưỡi dao tin kính)

Giô-na:   "Tôi trốn Chúa được không?  Tôi đã thử
  "Dưới lòng tàu, tôi nằm ngủ thật say
  "Nhưng Chúa lắc con tàu bằng bão dữ
  "Chuyến hải hành gặp bão, kể không may.
   (Giô-na)

Nhưng khi tôi dùng chữ "tôi" để nói về tôi, thì thật rõ ràng là đáng ghét.  Dầu vậy, tôi phải nói.  Cách đây khá lâu, tôi viết một thư cho Vĩnh Phúc, trong thư đó có một câu đại ý thế này:  "Ít có, hay không có người nào tự trách mình nặng nề như anh trong Ca Khúc Tâm Linh."  Tôi phải nói, để bạn thấy những lỗi lầm tôi đã phạm mà cảnh giác.  "Ví phải khoe mình, thì tôi sẽ khoe mình về sự yếu đuối tôi" (II Cô-rinh-tô 11:30).

 "Giờ thờ phượng, tôi ngồi ngay, nhìn thẳng
 "Ai biết tôi đang cùng bạn thầm thì?
 "Chuyện nhỏ to, dễ nghe hơn bài giảng
 "Chúa nhật nào tôi cũng rất... ham đi.
  (Ði nhà thờ)

Tôi từng nói lên nỗi e ngại của tôi trong Ca Khúc Tâm Linh:  "Có những ngập ngừng, do dự khi biết rằng số tín hữu thích thi ca Cơ Ðốc hiện sống ở 'nước người' không có là bao, nhất là đối với lớp tuổi thanh, thiếu niên."  Tôi được đọc bài viết của nhà văn Nguyễn Mộng Giác, bài Tình Trạng Lão Hóa Trong Sinh Hoạt Văn Học, đăng trong Tạp chí Văn Học (Tết Kỷ Mão, số 153-154, tháng 1 & 2/1999) có những câu: "Trừ đi cộng đồng người Việt gốc Hoa, trừ đi lớp trẻ không biết tiếng Việt, trừ đi những người chỉ nói mà không đủ trình độ đọc thông tiếng Việt, trừ đi những người đọc được tiếng Việt nhưng không đủ bề dày học vấn để đọc và thưởng thức văn chương, trừ đi những người chỉ quan tâm đến mục tiêu chính trị trước mắt và xem văn chương là điều xa hoa phù phiếm, trừ đi những người mải lo chạy theo nhịp sống hối hả của xã hội kỹ thuật cao cấp, trừ đi những người đã quá chán ngán chuyện đời muốn dành thời gian ít ỏi còn lại cho việc tìm kiếm một giải thoát tâm linh, trừ đi những người chỉ còn đọc được những chữ lớn bằng ngón tay cái...  Số người viết và người đọc còn lại bao nhiêu?"

Và đây là câu kết của bài viết:

"Văn chương đang thành ông cụ lỗi thời.  Chẳng mấy chốc, cụ ngã bệnh... rồi ngậm cười nơi chín suối." thì thấy rằng nỗi e ngại của tôi rất có "cơ sở".

Có một bạn hỏi tôi:  "Anh làm thơ Tâm Linh có dễ không?"  Tôi biết rằng đây là một câu hỏi "nửa đùa nửa thật" mà khó trả lời.  Nhưng tôi đã trả lời ngay, không chút do dự:  "Làm thơ đúng bài bản, đúng giáo điều thì chắc là dễ thôi."  

Làm thơ Tâm Linh không dễ.  Nhiều suy nghĩ, nhiều trăn trở lắm, lắm!  Quí vị thi nhân Cơ Ðốc hẳn từng có kinh nghiệm này.

Khi tôi đọc bài Cổ Phong của Lý Thân (?-846) nói về sự cực nhọc của nhà nông mới có hạt cơm:

 "Thùy niệm bàn trung xan
 "Lạp lạp giai tân khổ.
 (Cơm trên bàn ai biết
 Hạt hạt đầy đắng cay).

tôi liên tưởng tới các Ðầy Tớ Chúa, trong đó có Ba Mẹ tôi, và trong giờ phút thiêng liêng ấy tôi nhớ đến những nỗi khó khăn mà thánh Phao-lô đã thuật trong II Cô-rinh-tô 11:23-29:  "Họ là kẻ hầu việc của Ðấng Christ phải chăng?  Ừ, - tôi nói như kẻ dại dột, - tôi lại là kẻ hầu việc hơn!...  Nhiều lần tôi đi đường, nguy trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với giữa dân mình, nguy với dân ngoại, nguy trong các thành, nguy trong các đồng vắng, nguy trên biển, nguy với anh em giả dối...  thường khi phải nhịn ăn, chịu lạnh và lõa lồ..."  Bạn ơi, các Ðầy Tớ Chúa rất khó nhọc trong chức vụ thánh Chúa giao cho.  Tất cả "vì cớ Tin Lành" mà thôi (I Cô-rinh-tô 9:23).  Với lòng ngưỡng mộ các Ðầy Tớ Chúa, tôi làm bài thơ Gieo Giống Mà Giọt Lệ:

 "Tôi dẫu nói ngàn lời khen không đủ
 "Ðể vinh danh "Ðầy Tớ Chúa" không thôi
 "Bước người đi thấm hết nước mắt rơi
 "Ðời sống ấy đáng nêu cao muôn thuở.

Vâng, làm thơ Tâm Linh không dễ.  Số người biết thưởng thức lại rất hạn chế.  Sao tôi lại cứ nhè những đoạn đường chông gai mà đi vậy?  Tôi muốn dâng cho Chúa tiếng thơ của tâm linh tôi.

Tôi có làm một bài thơ vào ngày Mẹ tôi về với Chúa được sáu tháng, tôi khóc sướt mướt từng chữ, từng lời.  Tên bài thơ, cũng là câu chót của bài thơ, là "Thiên Ðàng con sẽ pha trà... Mẹ xơi".  Trong nỗi xúc cảm sâu xa, tôi nói với Mẹ tôi như thế.  Tôi tin bạn hiểu ý của tôi:  dù ở trên Thiên Ðàng tôi cũng vẫn muốn hầu hạ Mẹ tôi vậy.

 "Mẹ ơi, con biết nói gì
 "Nước trà đã đậm, ước chi Mẹ còn
 "Mẹ con cùng uống mới ngon
 "Bây giờ, nước mắt của con đậm trà
 "Con trông ngày tháng mau qua
 "Thiên Ðàng con sẽ pha trà... Mẹ xơi.

Sau khi gởi tặng thi tập Ca Khúc Tâm Linh, tôi nhận được khá nhiều điện thoại và thư trả lời.  Có thể nói tất cả đều có ý khích lệ tôi.  Sự khích lệ lớn lao nhất đối với tôi là đọc thơ tôi và ca ngợi Chúa:

 "Gã trai trẻ và gái đồng trinh
 "Người già cả cùng con nhỏ
 "Cả thảy khá ngợi khen danh
 "Ðức Giê-hô-va!
 (Thi Thiên 148:12-13)

Tôi rất mong mỏi bạn đọc thơ tôi.  Tôi đã đơn ca.  Tôi muốn cùng các bạn đồng ca.  Hãy cùng tôi ca ngợi Chúa với tinh thần cầu nguyện, cảm tạ và ngợi khen.  Cám ơn bạn.

Tôi xin kính cẩn dâng tập thơ này cho Chúa.  Nguyện Ngài dùng nó theo ý Ngài.  A-men.


Houston, ngày 3/3/1999
Tường Lưu