TÂM LINH




Trong cuốn DẠY KINH THÁNH tôi có viết:  "Ai là thi sĩ, hãy kể chuyện Kinh Thánh bằng thơ để dạy.  Chúa đã dùng hai Mục sư đặt thơ để dạy Kinh Thánh là cụ cố Mục sư Phan Ðình Liệu và cụ Mục sư Lưu Văn Mão.  Chính tôi trong thời thơ ấu đã biết Kinh Thánh qua thơ hai cụ, mà đến nay vẫn còn nhớ".
Cụ Mục sư Lưu Văn Mão là một thi sĩ biết tận dụng tài thi phú trong khi giảng luận Kinh Thánh.  Thời thiếu niên tôi thường được nghe cụ giảng.  Kết thúc mỗi phần bài giảng hay toàn bài giảng cụ thường đọc chậm rãi hai hay bốn câu thơ.  Nhớ được hai hay bốn câu thơ, nhớ được điều cụ giảng dạy.
Thi sĩ Tường Lưu là trưởng nam của cụ Mục sư Lưu Văn Mão.  Tôi biết anh từ thời niên thiếu như một người anh.  Tôi biết anh - một người học giỏi, đầy nghị lực và hơi "ngang".  Nhưng tôi không hề biết anh có một tâm hồn thơ mãnh liệt.
Tháng 11 năm 1996, tôi mới biết anh "biết làm thơ" khi nhận được "sưu tập các bài thơ có tính chất 'đạo' mà tôi đã làm trước đây".  Tôi rất mừng và đăng thơ anh trên tờ Ánh Sáng từ đó đến nay.
Tháng 4 năm 1997, tôi nhận được cuốn thơ MỘNG BAN ÐẦU của anh gồm có 25 bài về THỜI SỰ & TÌNH CẢM; 35 bài CỔ THI (Thoát dịch) với LỜI TỰA của Giáo sư Nguyễn Ðình Tuyến - Tiến sĩ Văn chương Ðại học Sorbonne.  Thì ra anh đã là thi sĩ từ lâu mà tôi nào có hay.
Tháng 2 năm 1998, tôi nhận được cuốn thơ TÌM LẠI HƯƠNG XƯA gồm 148 bài thơ dịch cổ thi của các thi nhân danh tiếng Trung Hoa.  Tôi được biết anh thông thạo Anh ngữ và Pháp ngữ.  Nay lại biết thêm anh thuộc loại "nho chùm".  Nhà giáo kỳ cựu Nguyễn Ðức Hiếu - Nguyên Ðặc Khu Trưởng Ðặc Khu Học Chánh Sài Gòn - Gia Ðịnh trong Ðôi Lời Ðề Tựa Sách Dịch Cổ Thi của Tường Lưu đã viết:  Dịch giả, Tường Lưu tiên sinh, tuy nói là "dịch chơi" nhưng thực ra ông đã dụng công rất nhiều để dịch thơ cổ Trung Hoa ra thơ Việt.  Nếu không thông hiểu Hán văn vững chắc tất không làm nổi.  Mà nếu có làm thì cũng là làm liều.  Tường Lưu tiên sinh không "làm chơi" cũng không "làm liều".
Riêng tôi lại rất chịu cái tinh thần "dịch chơi" của anh.  Một loại "chơi cho thanh lịch, chơi cho đài các, cho đời biết tay".
Sau khi nhận được cuốn thơ anh tặng, tôi có viết thư cảm ơn anh và có ý "tiếc" anh không tận dụng tài thi phú trong lãnh vực tôn vinh

Chúa và truyền giảng như cụ thân sinh và lòng tôi mong ước anh bước theo dấu chân cụ.
Tháng 7 năm nay, anh gởi đến tôi bản thảo tập thơ CA KHÚC TÂM LINH.  Anh đã đặt tên "CA KHÚC TÂM LINH" cho tập thơ ÐẠO - Thơ của anh là bài ca phát xuất từ tâm linh.  Tôi không còn "tiếc" nữa.
Con người có ba phần:  Thể xác, tâm hồn và tâm linh.
- Thể xác - là vật chất, là bụi đất. Theo
lời Kinh Thánh chép:  "Giê-hô-va Ðức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người" (Sáng Thế Ký 2:7).
- Tâm hồn - không phải là vật chất,
cũng không phải là linh chất mà là ảnh tượng của Ðức Chúa Trời.  Kinh Thánh chép:  "Ðức Chúa Trời phán rằng:  Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta" (Sáng Thế Ký 1:26).  Tâm hồn cho con người có tinh thần tự quyết, có kế hoạch, có khả năng tư tưởng và hoạch định.
- Tâm linh - không phải là vật chất mà
là linh chất, là chất của Ðức Chúa Trời.  Kinh Thánh chép:  "Giê-hô-va Ðức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh" (Sáng Thế Ký 2:7). Tâm linh khiến con người nhận biết

Ðức Chúa Trời, Ðấng Tạo Hóa cách nguyên tri.  Là động cơ thúc đẩy con người tầm đạo, đưa con người vào sự thờ phượng, lễ bái.  Nhờ tâm linh con người có khả năng tương giao với Ðức Chúa Trời.
Hai cuốn thơ MỘNG BAN ÐẦU và TÌM LẠI
HƯƠNG XƯA phát xuất từ tâm hồn bởi sự rung cảm do thời sự và tình đời, cùng sự cảm thông với người xưa.
Nhưng những bài thơ trong tập thơ này phát xuất từ tâm linh.  Ca ngợi Ðức Chúa Trời và tất cả mọi điều thuộc về Ngài, thì chỉ có tâm linh mới đủ khả năng thực thi qua ngôn từ.
Viết văn tương đối dễ hơn làm thơ.  Ghép chữ cho có vần có điệu không phải là thơ. Làm thơ không thể "đạt yêu cầu", đôi khi dùng chữ như "thừa", nhưng thiếu nó thì hết "thơ".  "Hoa trôi man mác biết là về đâu" (Kiều).  Chất thơ ở hai chữ "man mác", đượm đà phải ở chữ "là".  Chữ "là" này phải do sự rung cảm của tâm hồn mới có.
Thơ Tâm Linh không thể đặt căn bản trên sự "rung cảm" của tâm hồn, mà đặt căn bản trên "linh cảm" của Tâm Linh.  Các bài thơ được ghi lại trong Thánh Kinh đều do "linh cảm".
"Linh cảm" có được bởi sự tương giao với Ðức Chúa Trời.  Nên chẳng lạ gì, chúng ta thấy hầu hết các bài thơ trong CA KHÚC TÂM LINH đều do "linh cảm" bởi sự suy gẫm lời Kinh Thánh.

Từ một câu Kinh Thánh ngắn ngủi:  "Hơi thở tắt đi, loài người trở về bụi đất" (Thi Thiên 146:4a).  Qua tâm linh, thi sĩ Tường Lưu không thấy kết cuộc đời mình là "bụi đất".  Nhưng thấy hiện tại mình "chẳng là gì cả" và "có là gì chăng" chỉ tại có CHÚA.  Tâm linh vui thỏa trong ơn Chúa ban, bật lên thành thơ ca ngợi Chúa:

Tôi biết tôi ... chẳng là gì cả
Hoạn nạn nhiều, đủ mặt khó khăn
Nhưng tôi vui, đi bước vững vàng
Vì tôi biết ... bên tôi có Chúa.

Tôi biết tôi ... chẳng là gì cả
Suốt cuộc đời đùa với tay không
Nhưng tôi vui, dù vẫn tay không
Vì tôi biết ... bên tôi có Chúa.

Tôi biết tôi ... chẳng là gì cả
Có Chúa rồi, có trọn niềm vui
Tôi là gì?  Bụi đất mà thôi
Nhưng tôi biết ... bên tôi có Chúa.

Mong rằng quí vị đồng thanh với thi sĩ Tường Lưu ca ngợi Chúa bằng tâm linh với CA KHÚC TÂM LINH.

  Mục sư Phan Thanh Bình
   13/8/1998