9.  Y-sa-ca.

      Con thứ chín của Gia-cốp, và là con thứ năm của Lê-a. Y-sa-ca có nghĩa là đền bù. Lê-a nghĩ rằng Ðức Chúa Trời đã ban cho bà người con nầy vì bà đã dâng nàng hầu của mình cho chồng.

      Khi đến Ê-díp-tô Y-sa-ca có bốn con trai. Lần tu bộ thứ nhất, chi phái nầy có 54.400 tráng niên, lần tu bộ thứ nhì được 64.300 người và trong đời vua Ða-vít con số nầy lên đến 87.000 người (I Sử-ký 7:5).

      Phần đất họ được làm sản nghiệp ở về phía bắc xứ Ca-na-an: đông giáp sông Giô-đanh và chi phái Gát, tây và nam giáp Ma-na-se, bắc giáp Sa-bu-lôn, có 16 thành với các làng xung quanh, gồm các thành Gít-rê-ên, Ki-sôn, Su-nem, En-đô-rơ, En-ga-nim, A-na-cha-rát, Bết-Sê-mết... và núi Tha-bô. Ðây là vùng thung lũng phì nhiêu, rất dễ bị quân nghịch vây chiếm, đúng như lời chúc tiên tri của Gia-cốp: Y-sa-ca và con cháu là con lừa rừng, nằm nghỉ giữa chuồng, chịu gánh nặng những điều sưu dịch của các chủ ngoại bang, miễn là cho mình được ở trong đất đai đẹp đẽ. Tuy nhiên, dân Y-sa-ca cũng đã anh dũng chiến đấu chống Si-sê-ra, tướng của vua Gia-binh và đã theo giúp vua Ða-vít chống lại vua Sau-lơ ( I Sử ký 12:32).

      Chi phái Y-sa-ca có rất nhiều người tài giỏi như quan trưởng và thống lãnh quân đội Na-tha-na-ên, quan trưởng Ôm-ri, quan xét Thô-la, và hai vua của Y-sơ-ra-ên là Ba-ê-sa và Ê-la, con của Ba-ê-sa. Chi phái nầy đã vâng lệnh thầy tế lễ Ê-xê-chia gởi người đến Giê-ru-sa-lem để dự lễ Vượt qua cùng với các chi phái khác ( II Sử ký 30:18). Chi phái Y-sa-ca cũng được Môi-se chúc cho bình an và hạnh phúc: Còn ngươi, Y-sa-ca, hãy hớn hở trong các trại mình! (Phục truyền luật lệ ký 33:18).