7.  Gát.

      Gát có nghĩa là phước, ông là con đầu lòng của Xinh-ba, nàng hầu của Lê-a. Sau khi Giu-đa ra đời, Lê-a thấy mình không sanh nữa nên đem Xinh-ba làm hầu cho Gia-cốp, và nàng hạ sanh Gát. Lê-a vui mừng vì cho rằng mình được phước.

      Khi đến Ê-díp-tô, Gát có bảy người con trai. Lần tu bộ thứ nhất, chi phái Gát có 45.650 trai tráng. Trong đồng vắng, chi phái nầy đóng tại hướng nam của đền tạm cùng với chi phái Ru-bên và Si-mê-ôn. Lần tu bộ thứ nhì trước khi vào Ca-na-an, dân Gát còn lại 40.500 người.

      Vì người Gát lưu luyến với phần đất phì nhiêu Ga-la-át bên nầy sông Giô-đanh thuận tiện cho việc chăn nuôi, nên đã không cùng với anh em mình vào đất hứa. Phần đất của họ ở về phía đông sông Giô-đanh, bắc giáp với chi phái Ma-na-se, nam là chi phái Ru-bên. Thật đúng như lời chúc tiên tri của Gia-cốp: Còn Gát sẽ bị một đạo binh xông đánh, nhưng người xông đánh lại và đuổi theo. Chi phái Gát phải luôn luôn tranh chiến với quân thù vây bọc chung quanh. Nhưng vì biết nhờ cậy Ðức Chúa Trời, nên cuối cùng họ vẫn thắng.

      Môi-se đồng ý cho các chi phái Ru-bên, Gát và phân nữa chi phái Ma-na-se ở lại bên phía đông sông Giô-đanh vì họ có bầy súc vật rất nhiều với điều kiện là phải theo anh em mình đánh chiếm các phần đất mà Ðức Chúa Trời đã hứa cho dân Y-sơ-ra-ên (Dân số Ký đoạn 32). Những người trai trẻ trong chi phái Gát đã giữ đúng lời hứa, họ đã theo giúp Môi-se nên được người chúc phước như sau: Người nằm nghỉ như một con sư tử cái. Người đồng lòng với Y-sơ-ra-ên làm xong công bình của Ðức Giê-hô-va. Và cũng để cho con cháu mình sau nầy vẫn giữ sự thờ phượng Ðức Chúa Trời và sự hợp nhất của 12 chi phái, người Ru-bên và người Gát đã lập bàn thờ Ết (nghĩa là chứng) vì họ muốn bàn thờ nầy làm chứng giữa họ rằng Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời (Giô-suê 22:10-34).

      Ðặc điểm của chi phái Gát là mạnh mẽ, có tài đánh trận. Trong phần đất người Gát cũng có một thành ẩn náu là Ra-mốt (Giô-suê 20:8). Từ chi phái nầy có Bát-xi-lai là bạn thân với vua Ða-vít và đại tiên tri Ê-li.