5. Ðan.
Ðan có nghĩa là “xét đoán”. Ông là con của Gia-cốp và Bi-la, nàng hầu
của Ra-chên. Khi ông ra đời, Ra-chên rất mừng vì nghĩ rằng Ðức Chúa Trời đã xét
đoán công bình cho bà.
Khi đến Ê-díp-tô, Ðan chỉ có một con trai là Hu-sim, đến lúc
rời Ê-díp-tô, chi phái nầy có đến 62.700 tráng niên trên 20 tuổi đánh trận
được, đến lần tu sổ bộ thứ hai, trước khi vào đất hứa, thì tăng lên 64.400
người. Lúc đi trong đồng vắng, chi phái nầy có nhiệm vụ phòng vệ nên họ đi phía
sau dân sự (Dân số Ký 10:25). Chi phái Ðan lãnh một phần đất phì nhiêu ở trung
bộ Ca-na-an trên bờ Ðịa Trung Hải gồm các thành A-gia-lôn, Éc-rôn, Ên-thê-kê và
Xô-rê-a, trở nên đông đảo, chiếm được thêm đất vượt
quá giới hạn đã được chia cho từ trước.
Ô-hô-li-áp, thuộc chi phái Ðan là
người có tài dệt vải và thêu, đã được Môi-se dùng trong việc xây đền tạm cho
Ðức Chúa Trời (Xuất Ê-díp-tô ký 35:30-35). Quan xét Sam-sôn cũng thuộc chi phái
nầy, ông đã xét đoán dân sự trong 20 năm, lúc đầu đã anh dũng đánh đuổi quân
xâm lăng, giải cứu dân mình, nhưng về sau lại đắm say nữ sắc đến nổi thân bại
danh liệt. Sau đó, ông ăn năn và dâng những giờ phút cuối của cuộc đời để diệt
quân thù. Chi phái Ðan quả là rắn lục bên đường, “cắn vó ngựa, làm cho kẻ cỡi phải té nhào” như trong lời chúc của Gia-cốp.
Chi phái nầy, về sau đã đánh đuổi được dân La-át, chiếm xứ của họ, đã dựng hình
tượng và dùng hậu tự của Môi-se làm thầy tế lễ[1] để thờ Ðức Giê-hô-va. Như vậy, họ đã xui dân
chúng làm ô uế sự thờ phượng Ðức Chúa Trời. Cũng trong xứ Ðan, vua Giê-rô-bô-am
đã dựng tượng bò bằng vàng cho dân chúng thờ lạy (I Các vua 12:31).
Chi phái Ðan ít chịu giúp đỡ các anh em
mình trong việc chống trả ngoại bang, vì thế nữ quan xét Ðề-bô-ra trong bài ca
chiến thắng vua Gia-bin của dân Ca-na-an đã nói đến các chi phái không tích cực
tham chiến, trong đó có chi phái Ðan. Từ đó về sau, không thấy Kinh Thánh nhắc
đến chi phái nầy nữa. Ngay cả trong Khải huyền, khi nói đến các chi phái được
đóng ấn, Ðan là chi phái duy nhất không được đề cập.