4. Giu-đa.
Ông là con thứ tư của Gia-cốp và Lê-a. Giu-đa
có nghĩa là “ngợi khen”, vì khi sanh thêm được một trai, Lê-a rất
mừng rỡ và ngợi khen Ðức Chúa Trời.
Giu-đa
có vợ người Ca-na-an và sanh ba con trai. Hai người con đầu là E-rơ và Ô-nan
đều độc ác, nên bị Chúa giết. Theo tục lệ thời bấy giờ, vợ của anh phải gã cho
em để lưu truyền nòi giống. Nhưng Giu-đa đã không theo tục lệ nầy vì hai người
con trai lớn đã chết, ông sợ rằng Sê-la, người con thứ ba, cũng sẽ bị chung số
phận. Ông gạt dâu mình là Ta-ma, vợ của E-rơ và Ô-nan, trở về nhà cha nàng, đợi
đến khi Sê-la khôn lớn. Khi biết mình bị gạt, Ta-ma lập mưu đi lại với cha
chồng và sanh đôi hai trai là Phê-rết[1] và Sê-rách.
Về tánh hạnh, Giu-đa là người nhân hậu. Ông
đã cứu sống Giô-sép vì đã đề nghị bán chớ không nên giết (Sáng thế ký
37:26-28). Khi Giô-sép muốn giữ Bên-gia-min ở lại Ê-díp-tô, thì cũng chính
Giu-đa đã đứng ra bằng lòng chịu ở lại thế Bên-gia-min để làm nô lệ (Sáng thế
ký 44:33-34). Kết quả là Giô-sép tỏ mình ra ngay, không giấu nữa (Sáng thế ký
45:1).
Kinh Thánh cũng cho biết Giu-đa là cột trụ
trong gia đình, sau Gia-cốp, chứ không phải trưởng nam Ru-bên. Vì lúc xuống
Ê-díp-tô mua lương thực, khi bị Giô-sép chất vấn, chính Giu-đa đại diện cho anh
em mình trình các lời lên với người; và khi dời sang xứ Ê-díp-tô, Gia-cốp đã
chọn Giu-đa - chứ không phải Ru-bên - đi đến trước đặng xin Giô-sép đưa mình
qua Gô-sen (Sáng thế ký 46:28).
Lúc đến Ê-díp-tô, Giu-đa có ba người con trai là Sê-la, Phê-rết
và Xê-rách cùng hai cháu là Hết-rôn và Ha-mun (con của Phê-rết). Khi tu bộ thì
chi phái nầy có đến 74.600 người trai trẻ đánh trận được, lần tu bộ thứ hai
trước khi vào xứ Ca-na-an có 76.500 người. Ðó là chi phái đông dân nhất của
Y-sơ-ra-ên. Chi phái Giu-đa được chia cho phần đất nằm về phía tây Biển Chết
đến Ðịa Trung Hải, phía bắc giáp với chi phái Ðan và Bên-gia-min, phía nam chạy
dài đến đồng vắng Sin.
Giu-đa đã vô tình phạm tội ăn nằm cùng dâu
mình nhưng ông biết ăn năn, nên được phước (Sáng thế ký 38:26). Vì cớ tội ác
của Ru-bên, Si-mê-ôn và Lê-vi, nên Gia-cốp chúc phước trưởng nam cho người con
thứ tư là Giu-đa (49:3-12). Trong lời chúc phước nầy, ta nhận thấy ba điều:
1.- Ngợi khen
“Hởi Giu-đa! các anh em sẽ khen ngợi con...” đây là lời tiên tri chỉ về
Ðấng Mê-si. Ðấng Cứu Thế được sanh ra từ dòng dõi nầy cho nên Giu-đa được ngợi
khen. Ngoài ra, chi phái Giu-đa đã cung ứng người hùng Ca-lép[2], quan xét đầu tiên Ô-ni-ên[3], cùng Ða-vít, Sa-lô-môn... là những vị vua
tài đức của Y-sơ-ra-ên.
2.-
Quyền tể trị
“Tay con sẻ chận cổ quân nghịch...” nơi đây ta thấy Giu-đa được cho sức mạnh để chiến thắng kẻ
thù. Giu-đa còn được gọi là “sư tử tơ” và trong
Khải huyền 5:5, Chúa Jêsus được gọi là “sư tử của chi phái Giu-đa”. Như chúng ta biết sư tử là vua của muôn
thú, với dáng điệu oai nghi và sức mạnh phi thường, sư tử xứng đáng tượng trưng
cho quyền hành và sức mạnh.
“Các con trai cha sẽ quì lạy trước mặt con”, “cây phủ việt”, tất cả đều tượng trưng
cho quyền của một vị vua, quyền tể trị trên muôn loài, đây chỉ về đấng Mê-si. Vì
Ngài sẽ được sanh ra từ dòng dõi nầy nên Giu-đa được những lời chúc đầy phước
hạnh trên. Khi Ðấng Cứu Thế trở lại, thì lời tiên tri nầy sẽ thành sự thật: Ðức
Chúa Trời “ban cho Ngài danh trên
hết mọi danh, hầu cho nghe đến danh Ðức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới
đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống, và mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ
là Chúa, mà tôn vinh Ðức Chúa Trời, là Ðức Chúa Cha.” (Phi-líp 2:9-11)
3.- Sự
phồn thịnh
Các lời chúc về “nhành nho”, “rượu nho”, “gốc nho”, “sửa”... là những lời chúc về sự giàu có, thịnh vượng. Chi phái Giu-đa được chia
cho phần đất rất lớn về phía cực Nam. Sản phẩm vùng đất nầy là nho và ô-li-ve. Nho
để làm rượu và mật còn ô-li-ve để làm dầu. Vì vậy, Ca-na-an còn được gọi là xứ “đượm sửa và mật”.
“Người buộc lừa tơ mình vào gốc nho, lừa con mình vào nhành nho tốt nhất”, cho thấy chi phái nầy gắn liền với dân tộc
Y-sơ-ra-ên. Thật vậy, cho đến ngày nay dân Do-thái vẫn còn được gọi là dân
Giu-đa (Jews hay Judahites), mặc dù xứ Giu-đa đã bị tiêu hủy vào năm 70 S. C.,
nghĩa là gần 2.000 năm rồi.
“Gốc nho” nói ở đây cũng còn là
hình bóng của Chúa Jêsus. Ngài là gốc nho và cơ đốc nhân là nhánh nho (Giăng
đoạn 15). Sữa còn có nghĩa là lời Chúa trong Kinh Thánh như trong I Phi-e-rơ
2:2 đã dạy.
[1] Phê-rết
(hay Pha-rết) sanh Hết-rôn, Hết-rôn sanh Ram, Ram sanh A-mi-na-đáp, A-mi-na-đáp
sanh Na-ha-sôn, Na-ha-sôn sanh Sanh-môn, Sanh-môn sanh Bô-ô, Bô-ô sanh Ô-bết,
Ô-bết sanh Y-sai, Y-sai sanh Ða-vít, (Ru-tơ 4:18-22) và từ vua Ða-vít Cứu Chúa
Jêsus ra đời.
[2] Ca-lép người Kê-nít (có lẽ là
Kê-nê-sít: theo bản tiếng Mỹ là Kenezite và trong Kinh Thánh Từ Ðiển, giáo sĩ
Cadman cho rằng Ca-lép và Ốt-ni-ên là người Kê-nê-sít) là dân ngoại (Dân số Ký
32:12), ông là thám tử đại diện chi phái Giu-đa cùng 11 người khác được chọn từ
mỗi chi phái vào dọ thám đất hứa. Trong khi các thám tử khác (ngoại trừ
Giô-suê) lo sợ thối lui, ông nói: "Chúng ta hãy đi lên và chiếm xứ đi, vì
chúng ta thắng hơn được" (Dân số Ký 13:30). Khi vào Ca-na-an, ông được làm
quan trưởng, giúp việc chia đất cho các chi phái. Như vậy trong đời Cựu Ước,
Ca-lép là người gương mẫu về sự thương xót của Chúa đối với dân ngoại.
[3] Ốt-ni-ên là con của Kê-na, Kê-na
là em Ca-lép (Các quan xét 1:13). Vậy Ốt-ni-ên cũng là người Kê-nê-sít như
Ca-lép, ông chiếm được thành Ki-ri-át-Sê-phe nên được Ca-lép gả con gái mình là
[3]c-sa cho. Chúa đã dùng một người gốc ngoại bang làm quan xét đầu tiên cho
tuyển dân của Ngài.