1.  Ru-bên.

      Ru-bên là con đầu lòng của Gia-cốp và Lê-a. Ðức Chúa Trời cảm thông sự đau khổ của Lê-a vì bà không được chồng yêu mến, nên cho bà sanh Ru-bên. Tên Ru-bên có nghĩa là coi nầy, một trai!, bà hy vọng nếu có được đứa bé trai thì chồng bà sẽ nghĩ lại và thương yêu bà hơn.

      Kinh Thánh cũng cho biết về tánh tình nhân hậu của Ru-bên. Trong khi các em đều ghen ghét Giô-sép, định giết ông, thì chính Ru-bên đã đứng ra can thiệp và đề nghị bỏ ông xuống hố với ý định sẽ trở lại giải cứu em mình (Sáng thế ký 37:21-22). Trong lúc gia đình gặp nạn đói, phải qua Ê-díp-tô mua lương thực và bị Giô-sép làm khó dễ, cũng chính Ru-bên đề nghị đưa hai con trai mình để bảo đảm mạng sống Bên-gia-min. Thật tánh của Ru-bên đúng như Gia-cốp mô tả là nồi nước sôi trào. Ông rất nóng nảy, gấp rút, nhưng nhân hậu, độ lượng. Chuyện ông gian dâm với nàng hầu Bi-la của cha mình là một thảm họa, chẳng những cho đời ông mà cho cả hậu tự của ông sau nầy.

      Là con đầu lòng, lẽ ra Ru-bên được hưởng quyền trưởng nam, nghĩa là được các phước hạnh tốt nhất và hai phần gia sản của cha, nhưng vì tội loạn luân, ông đã bị truất các quyền nầy, phần cơ nghiệp đã bị chuyển qua cho hai con của Giô-sép. Thêm vào đó, trong lời chúc tiên tri của Gia-cốp, trước khi qua đời, thì chi phái Ru-bên sẽ chẳng được gì trội hơn ai. Thật vậy, chi phái nầy chẳng cung ứng được một tiên tri, một quan xét, hay một người hùng nào cả.

      Khi qua Ê-díp-tô, Ru-bên có bốn con trai, sau hơn bốn trăm năm tại xứ nầy, lúc Môi-se tu sổ bộ, thì chi phái Ru-bên có 46.500 trai trẻ trên 20 tuổi, đánh trận được. Lần tu bộ thứ nhì tại đồng bằng Mô-áp trước khi dân sự vượt sông Giô-đanh vào Ca-na-an, chi phái nầy còn lại 43.730 người.

      Lúc đi trong đồng vắng, Cô-rê (dòng Lê-vi, xem phần Lê-vi) đã hợp cùng Ða-than, A-bi-ram và Ôn (thuộc chi phái Ru-bên) kéo theo 250 người nữa, nổi loạn không vâng phục quyền lãnh đạo của Môi-se vì họ cho rằng mọi người đều là thánh, đều có thể làm thầy tế lễ, dâng tế lễ (Dân số Ký 16:1-3). Nhưng sự nổi loạn bị thất bại vì Ðức Chúa Trời phạt họ, đất bèn nứt ra hả miệng nuốt gia đình Cô-rê (nhưng các con trai Cô-rê không chết, Dân số Ký 26:11), Ða-than và A-bi-ram. Còn 250 người dâng lư hương[1] thì bị ngọn lửa từ Ðức Giê-hô-va thiêu hủy.

      Khi đến sông Giô-đanh, chi phái nầy cùng chi phái Gát và một nữa chi phái Ma-na-se xin Môi-se cho ở lại bên nầy sông, chứ không chịu cùng anh em mình vào xứ mà Ðức Chúa Trời đã hứa cho tuyển dân của Ngài. Lúc đầu, họ đã giữ đúng lời hứa giúp các chi phái khác chiếm đất Ca-na-an. Nhưng về sau, chi phái Ru-bên từ chối không chịu giúp đỡ anh em mình chống lại dân Ca-na-an. Khi nước bị chia đôi, thì người Ru-bên đã theo Y-sơ-ra-ên ở phương Bắc.

      Mặc dù không được nổi tiếng, nhưng chi phái Ru-bên không bị quên lãng. Chi phái nầy đã được tiên tri Ê-xê-chi-ên nhắc đến khi người chia đất mới và thành Giê-ru-sa-lem mới cũng có một cửa mang tên Ru-bên (Ê-xê-chi-ên 48:6; 31). Khải huyền cũng nói có 12.000 người thuộc chi phái nầy được đóng ấn (Khải huyền 7:5).

 

 



[1]    Trong Lê-vi ký 10:1-2 có nói đến 2 con của A-rôn bị một ngọn lửa từ Ðức Giê-hô-va lòe ra nuốt tiêu họ vì họ đã dâng một thứ lửa lạ trước mặt Ðức Giê-hô-va. Cái chết của 2 con A-rôn và 250 người dâng lư hương rất giống nhau, dù rằng 2 con A-rôn có quyền dâng tế lễ nhưng họ đã dâng không đúng cách, còn 250 người trên không phải là thầy tế lễ nên họ đã phạm trọng tội dám dâng lư hương trái với mạng lệnh của Ðức Chúa Trời.