Danh
từ Kinh Thánh được dịch ra từ chữ La-tinh "biblia" có nghĩa là quyển
sách. Ngày xưa người ta dùng vỏ cây cắt ra thật mỏng như tờ giấy (papyrus) để
ghi chép các tài liệu, loại giấy nầy được sản xuất và bán đi các nơi từ thành
phố Biblios, một hải cảng ở phía bắc nước Do Thái, của người Phê-ni-xi, gần
Beyruth, Lebanon ngày nay.
Vào
thế kỷ thứ 5 S. C., các Hội thánh Hy Lạp dùng danh từ "Tà Biblia"
hoặc "Biblia" cho Các Quyển Sách Thánh (Kinh Thánh). Nhiều người cho
rằng Jean Chrysostome trưởng lão tại thành Constantinople (398-404 S. C.), là
người thứ nhất dùng danh từ nầy. Ðến thế kỷ thứ 13, thì "Tà Biblia"
trở nên "Biblio" hay "Biblia[1]"
theo tiếng La-tinh tức là Các Sách Thánh trở nên Kinh Thánh. Sau đó các nước
Tây phương cũng chấp nhận và dùng danh từ "The Bible" hoặc "La
Bible".
I. Nội Dung:
Kinh
Thánh gồm có phần Cựu Ước và Tân Ước. Chữ Ước trong Cựu Ước được dịch từ danh
từ berith của Hy-bá-lai có nghĩa là giao ước. Trong Tân Ước, chữ Ước được dịch
từ danh từ diatheke của Hy Lạp có nghĩa là chúc thư (testament) hay giao ước
(covenant). Nội dung của Cựu Ước nói lên giao ước giữa Ðức Chúa Trời và dân sự
của Ngài, tức là dân Do-thái. Còn Tân Ước nói về giao ước mới của Thượng Ðế với
loài người, "hầu cho hể ai tin Con Ngài đều được sự sống đời đời".
A. Cựu
Ước của Cơ đốc giáo và Kinh Thánh Do thái giáo (Hebrew Bible) đều giống
nhau. Cựu Ước có 39 quyển sách trong khi đó Kinh Thánh Do-thái có 24. Sự khác
biệt nầy là do các vị lãnh đạo Cơ đốc giáo ngày xưa đã chia các sách Tiên tri
và lịch sử ra làm nhiều sách riêng biệt. Cựu Ước đã được Ðức Chúa Jêsus và các
Môn đồ cùng Sứ đồ nhìn nhận và gọi là Kinh Thánh (Scripture, Holy Scriptures).
Các sách của Cựu Ước và Kinh Thánh Do-thái là:
|
Kinh Thánh Cựu Ước |
Kinh Thánh Do thái |
|
A. Năm quyển sách của
Môi-se: |
A. Các sách luật pháp: |
|
1. Sáng thế ký |
Sáng
thế ký |
|
2. Xuất Ê-díp-tô ký. |
Xuất
Ê-díp-tô ký. |
|
3. Lê-vi ký. |
Lê-vi
ký. |
|
4. Dân số ký. |
Dân
số ký. |
|
5. Phục Truyền luật lệ ký. |
Phục
Truyền luật lệ ký. |
|
B. Các sách về lịch sử: |
B. Các sách tiên tri: |
|
6. Giô-suê. |
2a. Tiên tri trước: |
|
7. Các Quan xét. |
Giô-suê. |
|
8. Ru-tơ. |
Các
Quan xét. |
|
9. I Sa-mu-ên. |
Sa-mu-ên
(Sa-mu-ên I và II). |
|
10. II Sa-mu-ên. |
Các
Vua (Các Vua I và II). |
|
11. I Các Vua. |
2b. Tiên tri sau: |
|
12. II Các Vua. |
Ê-sai, |
|
13. I
Sử ký. |
Giê-rê-mi, |
|
14. II Sử ký. |
Ê-xê-chi-ên, |
|
15. E-xơ-ra. |
Sách
mười hai: Ô-sê. |
|
16. Nê-hê-mi. |
Giô-ên. |
|
17. Ê-xơ-tê. |
A-mốt. |
|
C. Các sách văn thơ: |
Áp-đia. |
|
18. Gióp. |
Giô-na. |
|
19. Thi Thiên. |
Mi-chê. |
|
20. Châm Ngôn. |
Na-hum. |
|
21. Truyền đạo. |
Ha-ba-cúc. |
|
22. Nhã ca. |
Sô-phô-ni. |
|
D. Các sách tiên tri: |
A-ghê. |
|
23. Ê-sai. |
Xa-cha-ri. |
|
24. Giê-rê-mi. |
Ma-la-chi. |
|
25. Ca thương. |
C. Các sách văn thơ: |
|
26. Ê-xê-chi-ên. |
Thi
Thiên. |
|
27. Ða-ni-ên. |
Gióp. |
|
28. Ô-sê. |
Châm
Ngôn. |
|
29. Giô-ên. |
Ru-tơ. |
|
30. A-mốt. |
Nhã
ca. |
|
31. Áp-đia. |
Truyền
đạo. |
|
32. Giô-na. |
Ca
thương. |
|
33. Mi-chê. |
Ê-xơ-tê. |
|
34. Na-hum. |
Ða-ni-ên. |
|
35. Ha-ba-cúc. |
E-xơ-ra
và Nê-hê-mi. |
|
36. Sô-phô-ni. |
Sử
ký (Sử ký I và II). |
|
37. A-ghê. |
|
|
38. Xa-cha-ri. |
|
|
39. Ma-la-chi. |
|
Các sách Ẩn Kinh (Apocrypha): Kinh Thánh
của Giáo hội Công giáo La-mã và Chính thống giáo Ðông phương (Eastern Orthodox)
có thêm các quyển sách lịch sử và thơ văn Do-thái khác vào. Các quyển sách nầy
được gọi là Deuterocanon, có nghĩa là Thứ Kinh (secondary canon). Người Do-thái
và Tin Lành gọi là Apocrypha, hay Ẩn Kinh (hidden canon), còn được gọi là Ngụy
Kinh.
Các sách Ẩn Kinh
được viết trong thời gian nước Do Thái bị ngoại ban đô hộ và hà hiếp từ thế kỷ
thứ ba đến thế kỷ thứ nhất T. C. (trong thời gian bốn trăm năm yên lặng). Các
quyển sách nầy, được viết bằng tiếng Hy-bá-lai và tiếng Hy-lạp, thường không có
xuất xứ rỏ ràng, và được cho vào bản dịch Bảy Mươi bằng tiếng Hy Lạp, bản dịch
La-tinh thế kỷ thứ hai, bản La-tinh Vulgate thế kỷ thứ năm, nên rất phổ thông.
Nội dung của các sách nầy có nhiều chỗ đi ngược lại sự dạy dỗ của cả Cựu Ước
lẫn Tân Ước vì thế Hội thánh đầu tiên và Giáo Hội Công Giáo không công nhận.
Mãi cho đến thời kỳ cải chánh (Reformation), vào năm 1546 S. C., Hội Ðồng Giáo
Hội Công Giáo La Mã, tại thành Trent nước Ý, mới chánh thức công nhận Ẩn Kinh
là Thánh (canon) để ngăn chận phong trào cải chánh vì những người theo phong
trào (Protestants) không cho Ẩn Kinh như là lời của Thượng Ðế.
Hai mươi năm sau khi Ðền Thánh bị phá hủy bởi quân La mã và dân Do
Thái bị tản lạc khắp nơi, vào năm 90 S. C., một số học giả Do Thái họp tại
Jamnia, cách Giê-ru-sa-lem chừng 50 Km về phía tây, để thống nhất và hợp thức
hóa Kinh Thánh Do Thái (họ loại bỏ Ẩn Kinh ra) vì họ nhận thức rằng chỉ có Kinh
Thánh và những sự dạy dỗ trong Kinh Thánh mới có thể liên kết dân Do Thái với
nhau dù họ ở nơi nào trên thế giới.
Ðức
Chúa Jêsus không bao giờ trích dẫn từ Ẩn Kinh trong chức vụ của Ngài tại thế,
cũng như trong cả Tân Ước, với tổng cộng hơn 300 lần trích dẫn từ Cựu Ước, chúng
ta không thấy chỗ nào dùng đến những quyển sách nầy. Tín hữu Tin lành cho rằng
Ẩn Kinh có giá trị, đáng được nghiên cứu (Giáo sĩ Cadman đã trích dẫn nhiều
đoạn từ Ẩn Kinh trong quyển Thánh Kinh Từ Ðiển của ông), tuy nhiên các sách nầy
không có thẩm quyền như các sách Cựu Ước được Ðức Thánh Linh soi dẫn.
|
Các sách Ẩn Kinh |
|
|
1. Tobit |
10. Bel and the Dragon |
|
2. Judith |
11. I Maccabees |
|
3. Phụ bản của Ê-xơ-tê |
12. II Maccabees |
|
4. Tri thức của Sô-lô-môn |
13. I Esdras |
|
5. Ecclesiasticus (Sirach) |
14. Lời cầu nguyện của Ma-na-se |
|
6. Baruch |
15. Thi thiên 151 |
|
7. Thơ của Giê-rê-mi |
16. III Maccabees |
|
8. Lời cầu của A-xa-ria và ba bạn Hê-bơ-rơ |
17. II Esdras |
|
9. Susana |
18. IV Maccabees |
B.
Tân Ước: Thánh thư Tân Ước (canon of the New Testament) là những
quyển sách được Ðức Thánh Linh soi dẫn. Làm sao chúng ta biết rằng đây là những
Thánh thư hay Tân Ước thật có đúng là lời của Ðức Chúa Trời hay không? Vì có
rất nhiều thơ tín và văn chương Cơ đốc từ thời Chúa Jêsus, cho nên rất khó mà
biết sách nào là sách Thánh.
Vào
thế kỷ thứ 4 S. C., Công giáo hội nghị (Church council) gồm mười trưởng lão đã
chọn các quyển sách để biệt vào hàng Thánh thư, tức là được Ðức Thánh Linh soi
dẫn để cho vào Tân Ước. Nguyên tắc lựa chọn của họ là những tài liệu thơ tín
của các Môn đồ, Sứ đồ trực tiếp học hỏi từ Ðức Chúa Jêsus như Phi-e-rơ,
Phao-lô, Giăng, Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca... là các quyển sách Thánh, được Ðức Chúa
Trời hà hơi. Tuy nhiên nhiều Hội thánh lúc đầu hoài nghi về các sách Gia-cơ, II
Giăng, III Giăng. Nhiều người cho rằng các vị trên đã được giao phó một công
tác vượt quá khả năng của loài người, nhưng trên thực tế những vị nầy chỉ khẳng
định các sách đã được giáo giới chấp nhận từ lâu, có nghĩa là họ đã hợp thức
hoá các Thánh thư Tân Ước, chứ không phải có quyền cho quyển sách nào là thánh
hay không.
|
Các
quyển sách Tân Ước |
||
|
1. Ma-thi-ơ |
10. Ê-phê-sô |
19. Hê-bơ-rơ |
|
2. Mác |
11. Phi-líp |
20. Gia-cơ |
|
3. Lu-ca |
12. Cô-lô-se |
21. I
Phi-e-rơ |
|
4. Giăng |
13. I Tê-sa-lô-ni-ca |
22. II
Phi-e-rơ |
|
5. Công vụ các sứ đồ |
14. II Tê-sa-lô-ni-ca |
23. I Giăng |
|
6. Rô-ma |
15. I Ti-mô-thê |
24. II Giăng |
|
7. I Cô-rinh-tô |
16. II Ti-mô-thê |
25. III Giăng |
|
8. II Cô-rinh-tô |
17. Tít |
26. Giu-đe |
|
9. Ga-la-ti |
18. Phi-lê-môn |
27. Khải
huyền |
Tân
Ước cũng có Thứ kinh (Apocrypha) tuy nhiên vì không có giáo hội nào nhìn nhận
các quyển sách nầy nên ít người biết đến. Chúng ta không đề cập đến Thứ kinh
Tân Ước nơi đây.
II. Tác Giả:
Cơ-đốc
nhân tin rằng Ðức Chúa Trời đã dùng những người viết hay trước giả để truyền
đạt lời của Ngài và chính Ngài là tác giả của cả quyển Kinh Thánh. Tuy rằng có
vài quyển sách mà chúng ta không biết rỏ người viết là ai, cơ đốc nhân tin
quyết rằng "Cả Kinh Thánh là được Ðức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy
dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình" (II Ti-mô-thê 3:16)
vì thế chúng ta cám ơn Chúa nhận lãnh lời Ngài trong Kinh Thánh dù rằng sau nầy
chúng ta có thể biết xuất xứ của một quyển sách nào đó một cách tường tận hơn
sự hiểu biết hiện tại.
1.
Năm sách luật pháp: Ða số các học giả cho rằng Môi-se đã viết các quyển
sách Sáng thế ký, Xuất Ê-díp-tô ký, Lê-vi ký, Dân số ký và Phục Truyền luật lệ ký,
các sách nầy được viết vào khoản năm 1400 T. C., trước khi ông mất. Ðoạn cuối
của Phục Truyền luật lệ ký nói về sự qua đời của Môi-se, có lẽ được Giô-suê,
người kế vị của ông viết.
2.
Các sách lịch sử:
a. Giô-suê là người viết sách mang tên ông, ông qua đời khoản 1375 T.
C., đó cũng là thời điểm mà quyển sách nầy được hoàn tất.
b. Người ta không biết rõ ai đã viết Các quan xét. Có lẽ sách nầy được hoàn tất vào đời vua Sau-lơ
hay Ða-vít năm 1050-1000 T. C..
c. Trước giả của sách Ru-tơ không được biết rỏ, tuy nhiên nhiều người
cho rằng Sa-mu-ên đã viết quyển nầy. Sách được viết vào đời vua Ða-vít hay sau
nữa vì đoạn cuối của sách có đề cập đến Ða-vít.
d. Sa-mu-ên là người đã viết hai sách mang tên của ông. Các sách nầy
kể lại từ khi Sa-mu-ên ra đời cho đến khi Áp-sa-lôn nổi loạn vào năm 975 T. C..
e. Lúc đầu người ta cho rằng tiên tri Giê-rê-mi đã viết hai quyển
sách Các Vua. Về sau người ta tin rằng có lẽ do một tiên tri không được biết
tên, đồng thời với Giê-rê-mi, viết lúc đế quốc Ba-by-lôn xâm chiếm Giê-ru-sa-lem
vào năm 587 T. C.
f. Thầy tế lễ E-xơ-ra là người viết bốn sách Sử ký I, II, E-xơ-ra và
Nê-hê-mi vào cuối thế kỷ thứ năm T. C. (Nê-hê-mi có góp phần vào việc biên chép
sách Nê-hê-mi đoạn 1-7 và 11-13). Trong các bản Kinh Thánh cổ, 4 sách nầy là
một.
g. Chúng ta không biết rõ ai là trước giả của Ê-xơ-tê. Sách được viết
vào khoản cuối đời vua A-suê-ru, 465 T. C..
3.
Các sách thơ văn:
a. Chúng ta không biết ai là trước giả sách Gióp. Quyển sách nầy được
viết vào khoản năm 2000 T. C., có người cho rằng sách được viết vào khoản năm
950 T. C..
b. Ða-vít là trước giả sách Thi Thiên, ngoại trừ các đoạn sau đây:
Ðoạn 72 và 127 do Sa-lô-môn viết; Ðoạn 90 của Môi-se (năm 1500 T. C.); Ðoạn 50
và đoạn 73-83 do A-sáp viết; Các đoạn 42, 44-49, 84-85, 87-88 do con cháu Cô-rê
viết; Ðoạn 88 do Hê-man (cùng với con cháu Cô-rê); Ðoạn 89 do Ê-than viết. Thi
Thiên 137 là đoạn được viết vào năm 538 T. C. nói đến sự buồn thảm của những kẻ
bị đày qua Ba-by-lôn.
c. Sa-lô-môn là trước giả sách Châm Ngôn, ông viết sách nầy vào khoản
năm 970-931 T. C.. Ðến năm 720 T. C., người ta thêm vào các đoạn 25-29. Ðoạn 30
do A-gu-rơ viết và đoạn 31 do vua Lê-mu-ên soạn.
d. Sa-lô-môn là người viết sách Truyền đạo cùng một lúc với Châm ngôn
vào khoản năm 970-931 T. C.. Nhiều học giả cho rằng cách dùng từ ngữ và câu văn
cho biết sách được viết sau thời gian trên.
e. Nhã ca cũng do Sa-lô-môn viết vào năm 965 T. C..
4.
Các sách đại tiên tri:
a. Tiên tri Ê-sai, con A-mốt, viết quyển sách mang tên ông. Sách được
viết vào năm 740-700 T. C..
b. Tiên tri Giê-rê-mi là trước giả của sách Giê-rê-mi, ông thường đọc
cho thơ ký của ông là Ba-rúc chép lại. Ba-rúc hoàn tất sách nầy sau khi
Giê-rê-mi chết năm 585 T. C..
c. Ca thương không đề cập đến ai là người biên soạn. Nhiều học giả
cho là Giê-rê-mi viết sách nầy vào năm 587 hay 586 T. C. trước khi
Giê-ru-sa-lem rơi vào tay người Ba-by-lôn.
d. Tiên tri Ê-xê-chi-ên là người viết sách mang tên ông lúc dân Do
thái bị bắt làm phu tù ở Ba-by-lôn. Sách bắt đầu lúc vua Giê-hô-gia-kin bị bắt
năm 597 T. C., Giê-rê-mi làm tiên tri cho đến năm 573 T. C.
e. Tiên tri Ða-ni-ên viết sách mang tên ông vào năm 536 T. C.. Nhiều
học giả hoài nghi về điểm nầy.
5.
Các sách tiểu tiên tri:
a. Tiên tri Ô-sê, con Bê-ê-ri làm tiên tri 40 năm từ năm 755 - 715 T.
C.. Ông là người viết sách Ô-sê.