Khải Huyền

         

 

Chung kết vĩ đại của truyện tích Kinh Thánh

Một khúc ca khải hoàn

Sự đắc thắng tối hậu của Ðấng Christ

Các từng trời mới và trái đất mới

 

Sách Khải Huyền căn cứ trên bài giảng của Ðấng Christ về những việc tương lai, có chép ở Ma-thi-ơ 24, Mác 13 và Lu-ca 21; hoặc nói rằng nó giải thích bài giảng ấy một cách tường tận hơn. Sách Khải Huyền chứa rất nhiều thành ngữ mà Ðức Chúa Jêsus đã dùng. Một vài hình bóng của nó dường như lấy từ sách Ê-xê-chi-ên và sách Ða-ni-ên.

 

Tác giả

Là chính Ðức Chúa Trời. Ðó là lời quả quyết đầu tiên trong sách nầy. Chính Ðức Chúa Trời đọc sách nầy qua Ðấng Christ, bởi một thiên sứ, cho Giăng chép lại và gởi sách toàn vẹn cho Bảy Hội Thánh (1:1).

Một vài nhà phê bình duy lý kim thời thấy trong sách Khải Huyền chẳng có lời tiên tri được soi dẫn chi hết, nhưng chỉ có "sự tưởng tượng của tôn giáo được phô bày không hạn chế, và mặc lấy hình thức tưởng là sự hiện thấy, song chẳng thật có như vậy." Chúng tôi chán ghét một ý kiến như vậy.

Chúng tôi tuyệt đối tin rằng sách nầy tự nhận là cái gì, thì nó chính là cái đó; rằng nó mang ấn tín của Tác giả nó; rằng một vài đoạn của nó là kỳ diệu và quí báu hơn hết trong cả Kinh Thánh; rằng sự vĩ đại tuyệt vời của nó thành ra phần kết thích hợp hơn hết của cả truyện tích Kinh Thánh; rằng những sự hiện thấy vinh hiển của nó về công ơn cứu chuộc hoàn thành của Ðấng Christ khiến nó thành ra con đường chân chánh của Ðức Chúa Trời đi thấu vào linh hồn người ta.

 

Người được dùng làm tác giả

Do truyền thoại rất vững chắc, ngay từ đời các Giáo phụ Hội Thánh, và theo sự phán đoán của đại đoàn thể tín đồ Ðấng Christ, thì Sứ đồ Giăng, "môn đồ yêu quí," bạn thân thiết nhứt của Ðức Chúa Jêsus ở trần gian nầy, tác giả sách Tin Lành Giăng, cũng chính là tác giả của sách Khải Huyền (1:1, 4, 9; 22:8; Giăng 21:20, 24). Rõ ràng lắm, do lòng muốn làm mất giá trị của sách nầy, có người nêu ý kiến rằng ấy là một Giăng khác; song ý kiến nầy chẳng có căn cứ chi hết.

 

Niên hiệu

Giăng đã bị đày ra đảo Bát-mô (1:9). Theo truyền thoại về các Sứ đồ, thì việc nầy xảy ra trong cơn bắt bớ của Domitien, khoảng năm 95 S.C.. Năm sau (96 S.C.), là năm đầu đời trị vì của Nerva, Giăng được thả ra và được phép trở về thành Ê-phê-sô.

Sự dùng quá khứ ở đây ("đã ở trong đảo gọi là Bát-mô" -- 1:9) dường như tỏ ra rằng dầu ông được các sự hiện thấy tại đảo Bát-mô, nhưng sau khi được thả ra và trở về thành Ê-phê-sô, ông mới viết thành sách (khoảng năm 96 S.C.).

 

Những sách vở luận về sách Khải Huyền

Người nào nghiên cứu những án văn phong phú luận về sách Khải Huyền, thì sẽ chú ý tới điểm nầy: Một cách Hoàn Toàn Ðộc Ðoán, nhiều người đã nêu lên ý kiến (họ không kể là ý kiến, song kể là lời quả quyết tuyệt đối) về nghĩa của cả những đoạn mầu nhiệm hơn hết, dường như họ hiểu biết hết cả, và lời tuyên bố của họ giải quyết được vấn đề. Chúng tôi tưởng rằng những ai muốn giải thích một sách như sách Khải Huyền nầy, thì tốt hơn nên có tinh thần khiêm cung và thành thực.

 

Những cách giải thích

Có nhiều cách giải thích sách Khải Huyền. Cách giải thích nào cũng mắc phải những sự khó khăn riêng. Bất cứ bản giải thích nào được thừa nhận, cũng còn những chi tiết cần phải gò bó đề được thích hợp với bản giải thích ấy.

Nói sơ qua, thì có bốn loại hoặc phái giải thích, loại hoặc phái nầy khác với loại hoặc phái kia nhiều lắm. Họ thường được gọi là "phái Quá khứ," "phái Lịch sử," "phái Tương lai" và phái Duy linh."

Phái giải thích "Quá khứ" cho rằng sách Khải Huyền liên quan đến thời kỳ trứ tác nó, tức là lúc Hội Thánh đấu tranh với đế quốc La-mã.

Phái giải thích "Lịch sử" nói là sách Khải Huyền cốt để dự ngôn tình hình tổng quát của cả thời kỳ Lịch sử Hội Thánh, từ thời Giăng cho tới khi tận thế. Ðó là một cảnh trạng, một loạt bức tranh phác họa các giai đoạn kế tiếp nhau và các đặc điểm trong cuộc đấu tranh của Hội Thánh cho tới khi đắc thắng chung kết. Ðó là "Sự hiện thấy về các thời đại" hoặc là "Các bức tranh diễn tả những thời kỳ và biến chuyển trọng đại của Hội Thánh."

Phái giải thích "Tương lai" cho rằng phần lớn sách Khải Huyền chú trọng vào lúc Chúa tái lâm và lúc tận thế.

Phái giải thích "Duy linh" hoàn toàn cho rằng các hình bóng trong sách Khải Huyền không chỉ về bất cứ biến cố nào trong lịch sử, -- hoặc các biến cố đương thời Giăng, hoặc các biến cố lúc tận thế, hoặc các biến cố giữa hai khoảng đó. Trái lại, họ cho đó là một cách dùng tranh và lời lẽ đầy nghĩa bóng để hình dung các nguyên tắc trọng đại trong nền cai trị của Ðức Chúa Trời áp dụng cho mọi thời đại.

Cứ xét theo ý nghĩa hiển nhiên hơn hết của lời lẽ trong sách Khải Huyền, thì chúng tôi tưởng rằng cách giải thích giản dị, rõ ràng, tự nhiên, và hợp lý hơn hết chính là dung hòa phái "Lịch sử" với phái "Tương lai." Có sự hiện thấy mô tả những biến cố trọng đại và đặc điểm của lịch sử Hội Thánh; có sự hiện thấy dự ngôn những biến chuyển trọng đại của ngày sau rốt; có sự hiện thấy có lẽ liên quan đến cả hai, -- cái thứ nhứt có lẽ làm hình bóng và dự ngôn về cái thứ hai.

Các hình bóng của sách Khải Huyền và dòng Lịch sử Hội Thánh tương đồng lạ lùng đến nỗi một trong những mục đích của sách nầy chắc là để dự ngôn Lịch sử Hội Thánh.

Lại nữa, trong sách Khải Huyền nầy có rất nhiều điều liên quan đến kỳ sau rốt, nên bất cứ bản giải thích nào cũng phải kể đến kỳ sau rốt.

 

Sách chia làm hai phần

Ðoạn 1 đến 3: "Những việc nay hiện có" (1:19), tức là những việc xảy ra đương thời Giăng. Bảy bức thơ gởi cho Bảy Hội Thánh luận về tình hình đương lúc ấy. Theo một phương diện, đó là phần mở đầu cho phần chính của sách theo sau, tức là:

Ðoạn 4 đến 22: "Những việc sau sẽ đến" (1:1, 19; 4:1), gồm thời gian từ lúc ấy cho tới ngày sau rốt.

 

Ðoạn 1:1-3 -- "Sự mặc thị" những điều sẽ xảy đến

Ðó là tên sách nầy tự đặc cho nó: Một sự khải thị, hoặc lộ thiên cơ, hoặc cho biết những việc tương lai (1:1, 19; 4:1). Như vậy, ngay trong lời đầu tiên, sách Khải Huyền đã hiển nhiên có tánh cách dự ngôn. Nó viết ra cốt để bày tỏ tương lai, và phác họa dòng lịch sử cùng số phận của Hội Thánh.

 

Ðây là một sách rất thực tế

Dầu là một sách rất mầu nhiệm, chứa nhiều điều chúng ta không hiểu, song nó cũng chứa nhiều điều mà chúng ta thật hiểu rõ.

Gắn vào các hình bóng mầu nhiệm của sách Khải Huyền, chúng ta thấy một vài lời cảnh cáo bổ ích hơn hết và một vài lời hứa quí báu hơn hết trong cả Kinh Thánh.

Chắc hẳn Giăng cũng không hiểu một vài điều ông đã thấy và viết. Chắc Ðức Chúa Trời nhứt định rằng một vài sự hiện thấy chỉ được rõ nghĩa khi lịch sử vén màn trải qua các thời đại. Tuy nhiên, linh hồn của Giăng rung động, và ông vui mừng, hớn hở khôn xiết khi mải nghĩ về những cảnh trạng mình đã thấy.

Khi thì bày tỏ chân lý giản dị hơn hết, khi thì dùng những hình bóng thần bí hơn hết, sách Khải Huyền chứa sự lạc quan thuần túy cho con cái Ðức Chúa Trời, nhiều lần quả quyết với chúng ta rằng ta được Ngài che chở, và bất cứ điều gì xảy ra, ta cũng có sự sống hạnh phước vô tận đang đợi chờ mình.

Khi thì trình bày cảnh tượng ở dưới đất, khi thì trình bày cảnh tượng ở trên trời, Khải Huyền cũng là sách nói về "cơn thạnh nộ của Ðức Chúa Trời," thỉnh thoảng đối chiếu sự hỉ lạc của người được cứu chuộc với sự thống khổ của kẻ bị hư mất. Ôi! Trong thế hệ hờ hững và không kính thờ Ðức Chúa Trời nầy, chúng ta cần được nhắc cho nhớ hai tình trạng khác nhau đó là dường nào!

 

Thái độ đối với sách Khải Huyền

Nhiều nhà văn, hoặc nhà Truyền đạo, hoặc người khác, sử dụng sách Khải Huyền hoặc những ý tưởng đặc biệt của họ về sách Khải Huyền một cách thái quá. Vì cớ đó, ít ra là một phần nào, lại có người hoàn toàn không đụng tới sách Khải Huyền. Cả hai thái độ nầy sai lạc. Không nên xao lãng sách Khải Huyền, và cũng không nên tôn nó quá cao hơn các quyển khác trong Kinh Thánh. Nhưng chắc rằng sách Khải Huyền đáng chiếm được một phần khả quan trong sự học hỏi và tôn sùng của tín đồ Ðấng Christ; nó sẽ ban thưởng lớn lao cho tín đồ nào làm như vậy.

 

Bối cảnh của sách Khải Huyền

Những sự hiện thấy đã được ban cho và sách đã được viết ra trong ánh lửa đỏ thiêu các thánh tuận đạo. Hội Thánh đã được 66 tuổi, đã lớn lên phi thường, đã và đang trải qua những cơn bắt bớ khủng khiếp.

30 năm trước khi Giăng viết sách Khải Huyền, tín đồ đã bị bắt bớ lần đầu tiên, do tay Hoàng đế Néron (64-67 S.C.). Trong cơn bắt bớ nầy, vô số tín đồ đã bị đóng đinh vào thập tự giá, hoặc bị quăng cho thú dữ cắn xé, hoặc bị tẩm nhiên liệu vào áo xống mà thiêu cho đến chết, trong khi Néron cười ha hả trước tiếng kêu thương quằn quại của những người đờn ông, đờn bà đang bốc cháy. Trong cơn bắt bớ của Néron, Phao-lô và Phi-e-rơ đã bỏ mình vì Chúa.

Cuộc bắt bớ thứ hai do Hoàng đế Domitien (95-96 S.C.). Nó ngắn ngủi, nhưng ác liệt vô cùng. Trên 40 ngàn tín đồ đã bị tra khảo và giết chết. Trong cơn bắt bớ nầy, Giăng bị đày ra đảo Bát-mô (1:9). Khi Ðức Chúa Trời ban những sự hiện thấy trong sách Khải Huyền, thì cơn bắt bớ nầy đang diễn ra.

Cơn bắt bớ thứ ba theo gần liền sau đó, và do tay Hoàng đế Trajan (năm 98 S.C.). Giăng đã sống sót trong hai cơn bắt bớ trước, và bây giờ sắp trải qua cơn bắt bớ thứ ba của đế quốc La-mã đang cố gắng tiêu trừ đạo Ðấng Christ. Ðó là những ngày tối tăm của Hội Thánh. Nhưng sẽ còn những ngày tối tăm hơn nữa.

Chẳng những có sự bắt bớ từ bên ngoài, song chính ở nội bộ, Hội Thánh cũng bắt đầu có những dấu hiệu hư hoại và bội đạo.

Rõ ràng lắm, Ðức Chúa Trời ban những sự hiện thấy nầy để làm cho Hội Thánh vững vàng, ngõ hầu đối phó với những ngày khủng khiếp gần xảy đến.

 

"Phước cho kẻ đọc" (1:3)

Cùng kẻ nghe và giữ theo những lời trong sách nầy! Sách nầy mở đầu như vậy đó, và nó cũng kết thúc như vậy đó (22:7). Chính Ðức Chúa Trời đã phán lời nầy.  Lời hứa nầy dành cho sự đọc riêng một mình và sự nghe đọc trước hội chúng trong nhà thờ. Ðương thời ấy, các sách phải chép bằng tay, rất hiếm và rất mắc tiền. Ðể hiểu biết Kinh Thánh, phần lớn người ta phải nhờ nghe đọc và nghe giảng dạy trong nhà thờ. Sự phát minh máy in ngày nay và sự phân phát Kinh Thánh chữ in cho rất nhiều người, thì chẳng làm tiêu mất nhu cầu và giá trị của sự thường xuyên bày giải Lời Ðức Chúa Trời trong các cuộc nhóm họp ở nhà thờ.

Ðức Chúa Trời định rằng Lời Ngài phải chiếm địa vị trọng yếu trong các cuộc nhóm họp ở nhà thờ khi ấy, ngày nay và luôn mãi. Kinh Thánh là phương tiện duy nhứt mà Ðức Chúa Trời tuyển định để giữ cho Hội Thánh trung thành với sứ mạng của mình.

Nếu ngay từ ban đầu, các thủ lãnh Hội Thánh chú ý đến lời cảnh cáo nguyên thủy nầy, thì Hội Thánh có lẽ đã được cứu khỏi sự hư hoại khủng khiếp mà mình phải chuốc lấy trải qua các thời đại. Chúng tôi chẳng bao giờ hết ngạc nhiên vì giới lãnh đạo Hội Thánh ngày nay chỉ thừa nhận Lời Ðức Chúa Trời một cách hữu danh vô thực trong các cuộc nhóm họp ở nhà thờ. Thật ra Lời Ðức Chúa Trời đáng phải là chính trái tim của các cuộc nhóm họp ấy.

 

Ðoạn 1:4-8 -- Lời chào thăm Bảy Hội Thánh

Tại Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi, và Lao-đi-xê.

Bảy đô thị nầy nối liền nhau bởi một đại lộ hình tam giác, và được nêu tên theo thứ tự địa dư, bắt đầu từ Ê-phê-sô, đi chừng 100 dặm về phía Bắc tới Bẹt-găm, rồi lại đi về phía Ðông-nam tới Lao-đi-xê, cách Ê-phê-sô chừng 100 dặm về phía Ðông.

"Xứ A-si" (câu 1:4) là một tỉnh La-mã ở miền Tây của Tiểu-Á-tế-á, và ngày nay thuộc lãnh thổ Thổ-nhĩ-kỳ. Ê-phê-sô là đô thị trọng yếu nhứt, còn Bẹt-găm là thủ đô chánh trị.

Có nhiều chi hội ở "xứ A-si". Những chi hội gọi là "Bảy Hội Thánh" đây chắc là mấy trung tâm trọng yếu trong các địa hạt liên hệ, là những đô thị then chốt cho chức vụ Mục sư của Giăng ở cả vùng nầy.

Chỉ thành Ê-phê-sô được nêu tên ở chỗ khác trong lịch sử Tân Ước. Thi-a-ti-rơ được nói đến là quê hương của Ly-đi (Công vụ các sứ đồ 16:14); Lao-đi-xê đã nhận một bức thơ của Phao-lô (Cô-lô-se 4:13-16), nhưng thơ nầy nay đã thất lạc. Còn 4 chi hội kia không được ghi nhắc ở chỗ nào khác trong Tân Ước, chắc là Hội nhánh do chức vụ của Phao-lô tại thành Ê-phê-sô.


Bản đồ số 59

 


Con số "Bảy"

Sách Khải Huyền được cấu tạo chung quanh một hệ thống số "bảy". Bảy bức thơ gởi cho Bảy Hội Thánh (đoạn 1-3); bảy cái ấn và bảy ống loa (đoạn 4:11); bảy bát (đoạn 15, 16); bảy chơn đèn (1:12, 20); bảy ngôi sao (1:16, 20); bảy vị thiên sứ (1:20); bảy vị thần (1:4); Chiên Con có bảy sừng và bảy mắt (5:6); bảy ngọn đèn (4:5); bảy tiếng sấm (10:3-4); con rồng sắc đỏ có bảy đầu và bảy mũ triều thiên (12:1); con thú giống như con beo có bảy đầu (13:1); con thú sắc đỏ sậm có bảy đầu (17:3, 7); bảy hòn núi (17:9); bảy vua (17:10).

Suốt cả Kinh Thánh, con số "bảy" hoàn toàn dễ thấy. Ngày Sa-bát là ngày thứ bảy. Chế độ Lê-vi của Cựu Ước được xây dựng trên một chu kỷ (cycle) những con số "bảy."

Giê-ri-cô sụp đổ sau khi bảy thầy tế lễ cầm bảy cây kèn, đi vòng quanh vách thành trong bảy ngày, và đến ngày thứ bảy, thì đi vòng quanh bảy lần. Na-a-man dầm mình bảy lần dưới sông Giô-đanh.

Kinh Thánh bắt đầu với bảy ngày sáng tạo và chấm dứt với một sách gồm những số "bảy" liên quan đến số phận chung cuộc của muôn vật thọ tạo.

Số "bảy" được Ðức Chúa Trời ưa thích lắm. Có bảy ngày trong một tuần lễ. Âm nhạc có bảy cung. Cái mống có bảy màu sắc.

Vì số "bảy" thường được dùng và theo cách dùng số "bảy," ta chắc rằng nó có một ý nghĩa cao hơn giá trị của nó như một con số. Về hình bóng, người ta cho rằng nó tượng trưng cho ý niệm về sự toàn vẹn, một đơn vị, sự đầu dẫy, toàn bộ.

 

Bảy "phước" của sách Khải Huyền

Trong sách nầy có bảy lần chép: "Phước cho...!" Chúng ta không biết con số nầy do định ý hay là do tình cờ.

"Phước cho kẻ đọc lời tiên tri nầy!"

"Phước cho những người chết, là người chết trong Chúa!" (14:13).

"Phước cho kẻ tỉnh thức" (chờ Chúa tái lâm)! (16:15).

"Phước thay cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con!" (19:9)

"Phước thay và thánh thay, những kẻ được dự phần về sự sống lại thứ nhứt!" (20:6).

"Phước thay cho kẻ nào giữ những lời tiên tri trong sách nầy!" (22:7).

Phước thay cho những kẻ giặt áo mình!" (22:14).

 

Ý nghĩa của những con số khác

Có những con số khác được dùng một cách khiến ta nghĩ rằng chính nó là một lời nói có ý nghĩa vượt quá giá trị của nó như một con số. Ðây là một vài con số ấy:

3: Dấu hiệu đặc biệt của Ðức Chúa Trời bằng con số.

4: Dấu hiệu đặc biệt của cõi thiên nhiên, của muôn loài thọ tạo bằng con số.

7:3 cộng với 4: Dấu hiệu đặc biệt chỉ về toàn bộ.

12:3 lần 4: Dấu hiệu đặc biệt của dân Ðức Chúa Trời.

10: Dấu hiệu đặc biệt của quyền lực trần gian.

 

"Ðấng hiện có, đã có và còn đến" (1:4)

Bổn tánh của Ðức Chúa Trời còn đến đời đời: Ðó là một trong những điểm mà sách nầy nhấn mạnh.

"Ðấng hằng sống đời đời " (4:10).

"Chúa, là Ðức Chúa Trời, Ðấng Toàn năng, trước đã có, nay hiện có, sau còn đến" (4:8).

"Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là thứ nhứt và là sau chót, là đầu và là rốt" (21:6; 22:13).

"Chúa là Ðức Chúa Trời, Ðấng hiện có, đã có và còn đến, là Ðấng Toàn năng, phán rằng: Ta là An-pha và Ô-mê-ga" (1:8).

Ta là Ðấng trước hết, và là Ðấng sau cùng, là Ðấng Sống, Ta đã chết, kìa nay Ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và Âm phủ" (1:17, 18).

Trong một thế giới mà các đế quốc dấy lên và sụp đổ, mọi vật chết và qua đi, chúng ta được nhắc nhở rằng Ðức Chúa Trời không có sự thay đổi, không có thời gian, và hằng có đời đời. Ngài hứa rằng bổn tánh Ngài có thể được truyền cho chúng ta; rằng cũng như Ngài và bởi ân điển Ngài, chúng ta không bị Tử thần làm hại, song có thể cứ sống mãi mãi. Ta sống đời đời, hưởng tuổi thanh niên bất diệt. Thực sự nầy cho đời ta có ý nghĩa quí báu biết bao! Các thánh đồ đương thời ấy phải tuận đạo đã được yên ủi biết bao!

 

"Ðức Chúa Jêsus Christ... làm Chúa của các vua" (1:5)

Lời nầy chứng quyết rằng Ngài là Bá chủ không hạn chế của thế giới. Không phải dường là như vậy luôn luôn. Nhiều vua đã đố thách và còn cứ đố thách Ðấng Christ một cách táo tợn, om sòm, vô liêm sỉ. Cả đến ngày nay, nhiều quỉ sứ của địa ngục còn đi dọc ngang trên mặt đất, cai trị loài người. Nhưng chắc chắn chúng sẽ bị đoán phạt.

Nước mà xưa kia Sa-tan cống hiến và Ðấng Christ từ chối, thì Ngài vẫn chiếm được, nhưng theo phương pháp của Ngài, chớ không theo phương pháp của Sa-tan. Những người được cứu chuộc trong mọi thời đại, tức là các linh hồn ở Ba-ra-đi và các thánh nay còn sống, đang móng chờ ngày vui sướng ấy. Nó sẽ đến chắc chắn như buổi sáng vậy. Ðấng Christ ngự trên ngôi, cả khi tình hình dường như tối tăm hơn hết. Chúng ta chớ bao giờ quên điều đó.

 

"Ðã lấy Huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta" (1:16)

Chúng ta được cứu bởi Huyết Ðấng Christ: đó lại là một điểm khác mà sách nầy nhấn mạnh.

"Ngài đã lấy Huyết mình mà chuộc cho Ðức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái... " (5:9).

"Chúng đã thắng nó (Sa-tan) bởi Huyết Chiên Con" (12:11).

"Ðó là những kẻ... đã giặt và phiếu trắng áo mình trong Huyết Chiên Con" (7:14).

"Phước thay cho những kẻ giặt áo mình đặng có phép đến nơi "Cây Sự Sống!" (22:14).

Có những nhà trí thức khô khan chống lại tư tưởng đó. Nhưng đó là một sự dạy dỗ liên tiếp của Kinh Thánh, được Tân Ước nhấn mạnh nhiều lần. Nó cảm động lòng chúng ta biết bao! Vì cớ nó, chúng ta sẽ kính mến và thờ lạy Ngài là dường nào trải qua các thời đại vô tận của cõi đời đời!

 

Ngài "đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng" (1:6)

Sách nầy đầy dẫy những lời ca tụng, ngợi khen Ðức Chúa Trời.

"Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí và quyền lực" (4:11).

"Sự ngợi khen, vinh hiển, khôn ngoan, chúc tạ, tôn quí, quyền phép và sức mạnh đều thuộc về Ðức Chúa Trời ta, là Ðấng ngự trên ngôi, và thuộc về Chiên Con đời đời vô cùng!" (5:13; 7:10, 12).

"Hỡi Chúa là Ðức Chúa Trời Toàn năng, công việc Chúa lớn lao và lạ lùng thay! Hỡi Vua của muôn đời, đường lối Ngài là công bình và chơn thật!" (15:3).

"Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh hiển, quyền phép đều thuộc về Ðức Chúa Trời chúng ta... Ha-lê-lu-gia!... Ha-lê-lu-gia!... Ha-lê-lu-gia! Chúa là Ðức Chúa Trời chúng ta, là Ðấng Toàn năng, đã cầm quyền cai trị. Chúng ta hãy hớn hở vui mừng, tôn vinh Ngài" (19:1-7).

Bốn con sanh vật, 24 trưởng lão, muôn triệu thiên sứ và vô vàn người được cứu chuộc từ mọi dân tộc, cất tiếng như đại dương gầm thét, làm cho Thiên đàng vang lừng khúc ca ngợi khen Ðức Chúa Trời. Tại sao trong các nhà thờ chúng ta không có như vậy? Tại sao không để cho tín đồ HÁT thánh ca?

 

"Kìa, Ngài đến giữa những đám mây!" (1:7)

Sự tái lâm của Chúa cũng lại là một đề mục chánh yếu của sách nầy.

"Mọi mắt sẽ thấy Ngài, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng trông thấy" (1:7).

"Các ngươi khá bền giữ... cho tới chừng Ta đến" (2:25).

"Ta sẽ đến như kẻ trộm" (3:3).

"Ta đến mau kíp; hãy giữ lấy điều ngươi có" (3:11).

"Kìa, Ta đến như kẻ trộm. Phước cho kẻ tỉnh thức!" (16:15).

"Kìa, Ta đến mau chóng" (22:7).

"Nầy, Ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với Ta" (22:12).

"Phải, Ta đến mau chóng" (22:20).

Sự tái lâm của Chúa là một trong những lời đầu tiên của sách nầy. Và là lời cuối cùng của sách nầy lời Giăng cầu xin Ngài "Hãy đến."

Ðấng Christ sắp tái lâm. Sự tái lâm của Ngài là kết cuộc vĩ đại của lịch sử loài người. Ngài sẽ ngự đến trên đám mây, có quyền năng và vinh hiển. Cả thế giới sẽ thấy Ngài. Một ngày sầu thảm, kinh khiếp cho mọi người đã chối bỏ Ngài. Một ngày vui mừng khôn xiết cho những kẻ thuộc về Ngài.

Chính Ðức Chúa Jêsus cũng đã phán những điều đó nhiều lần (Ma-thi-ơ 13:42, 50; 24:30, 51; 25:30; 26:64; Lu-ca 21:25-28). Sách Công vụ các sứ đồ 1:9, 11 chép rằng Ðức Chúa Jêsus ngự lên trời trong một đám mây, và "cũng sẽ trở lại như cách... Ngài lên trời vậy."

Gần 2000 năm đã trôi qua, mà Ngài vẫn chưa tái lâm. Nhưng đối với bối cảnh của cõi đời đời, thì 1000 năm chỉ như một ngày. Một ngày kia, Ngài sẽ ngự đến thình lình. Ðức Chúa Jêsus ngự đến lần thứ nhứt nhằm thì giờ chỉ định. Và Ngài sẽ tái lâm nhằm thì giờ đã định trong chương trình của Ngài.

"Thì giờ đã gần rồi" (1:3). Sách Khải Huyền mở đầu như vậy đó. Và nó cũng kết thúc như vậy đó (22:10). Có thể gần hơn là chúng ta vẫn suy nghĩ.

 

Ðoạn 1:9-20 -- Ðấng CHRIST ở Giữa Hội Thánh

"Bát-mô" (1:9) là đảo mà Giăng bị đày tới trong cơn bắt bớ do tay Hoàng đế Domitien, và là nơi Giăng nhận được những sự hiện thấy nầy. Nó ở biển Égée, cách thành Ê-phê-sô chừng 60 dặm về phía Tây-nam, và cách thành A-thên chừng 150 dặm về phía Ðông. Nó dài 10 dặm và rộng 6 dặm, có nhiều đá và không có cây cối.

"Ngày của Chúa" (1:10), rõ ràng là "ngày thứ nhứt trong tuần lễ" (Công vụ các sứ đồ 20:7; I Cô-rinh-tô 16:2), là ngày các tín đồ nhóm họp để thờ phượng Chúa và kỷ niệm sự sống lại của Chúa. Ngày thứ bảy được giữ để kỷ niệm công cuộc sáng tạo thể nào, thì cũng một thể ấy, ngày thứ nhứt được biệt riêng để khiến trí óc loài người đời đời nhớ truyện tích Ðức Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết, nhớ ngày quan trọng hơn hết trong cả lịch sử, nhớ biến cố duy nhứt làm cho đời người có ý nghĩa.

"Ðược Ðức Thánh Linh cảm hóa" (1:10; 4:2; 17:3; 21:10); đây dường như có nghĩa là các quan năng của ông đã hoàn toàn bị Thánh Linh Ðức Chúa Trời chiếm lấy.

 

"Hãy chép" (1:11)

Ðó là lịnh của tiếng từ trời truyền xuống.

"Ðiều ngươi thấy, hãy chép vào một quyển sách" (1:11).

"Hãy chép lấy những sự ngươi đã thấy" (1:19).

Hãy viết cho... Ê-phê-sô." "Hãy viết cho... Si-mẹc-nơ." "Hãy viết cho... Bẹt-găm." "Hãy viết cho... Thi-a-ti-rơ" "Hãy viết cho ... Sạt-đe" "Hãy viết cho... Phi-la-đen-phi." "Hãy viết cho... Lao-đi-xê" (2:1, 8, 12, 18; 13:1, 7, 14).

"Hãy viết lấy: Từ rày, phước thay cho những người chết trong Chúa!" (14:13).

"Hãy chép: Phước thay cho những người được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con!" (19:9).

Như vậy, đã nhiều lần được nhấn mạnh mẽ hết sức rằng chính Ðức Chúa Trời truyền lịnh chép sách Khải Huyền nầy, và chính Ngài bảo cho Giăng biết đúng phải chép những gì.

 

Sự hiện thấy về Ðấng Christ (1:13-18)

Cầm thiên sứ của các Hội Thánh trong tay Ngài.

Tóc Ngài trắng như tuyết. Mắt Ngài như ngọn lửa.

Mặt Ngài như mặt trời. Chơn Ngài như đồng đánh bóng.

Tiếng Ngài phán như tiếng nước lớn.

Miệng Ngài thò ra thanh gươm bén hai lưỡi.

Cứu Chúa nhu mì của các sách Tin Lành bây giờ hiện ra với Hội Thánh Ngài dưới hình trạng đó; và cùng với Hội Thánh, Ngài đã thắt lưng để giao tranh. Ngài là một Chiến sĩ, một Ðấng Toàn thắng, đối địch với những quân thù chí tử và hùng mạnh. Hình trạng Ngài khuyến khích Hội Thánh hãy tin cậy tài lãnh đạo của Ngài. Ðó cũng là một lời nghiệm khắc và nhiệt thành cảnh cáo Hội Thánh Ngài (đang có dấu hiệu hư hoại và bội đạo càng ngày càng hơn) rằng Ngài sẽ chẳng dung thứ sự phân tâm hoặc bất trung.

 

Các thiên sứ (1:20)

Các thiên sứ dự phần quan trọng trong sự trình diễn cảnh trạng của những sự hiện thấy và trong sự chép sách nầy.

Một thiên sứ đọc sách nầy cho Giăng chép (1:2; 22:16).

Trong số Bảy Hội Thánh, thì mỗi Hội Thánh có một thiên sứ (1:20; 2:1; v.v...).

Một thiên sứ chú ý đến quyển sách đóng ấn (5:2).

Muôn vàn thiên sứ hát khen ngợi Chiên Con (5:11).

Bốn thiên sứ được ban cho quyền phép để làm hại trái đất (7:1-4).

Một thiên sứ đóng ấn cho những người được chọn (7:1-4).

Các thiên sứ sắp mình xuống trước mặt Ðức Chúa Trời (7:11).

Một thiên sứ được dùng trong sự đáp lại lời cầu nguyện của các thánh đồ (8:3-5).

Bảy thiên sứ thổi bảy ống loa (8:6, 7 v.v...).

Một thiên sứ của vực sâu làm vua của đạo quân châu chấu (9:11).

Bốn thiên sứ được cởi trói cùng 200 triệu lính mã kỵ ở bờ sông Ơ-phơ-rát (9:15, 16).

Một thiên sứ cầm quyền sách mở ra và báo cáo kỳ sau rốt (10:1, 2, 6).

Mi-chên cùng các thiên sứ trực thuộc giao chiến với con rồng và các thiên sứ của nó (12:7).

Một thiên sứ bay đi rao báo Tin Lành cho các nước (14:6).

Một thiên sứ khác bay đi rao báo sự suy sụp của Ba-by-lôn (14:8).

Một thiên sứ tuyên án phạt những kẻ theo Con Thú (14:9, 10).

Một thiên sứ rao báo mùa gặt của trái đất (14:15).

Một thiên sứ rao báo mùa hái nho của trái đất (14:18, 19).

Bảy thiên sứ cầm bảy tai vạ sau cùng (15:1).  Một thiên sứ rao báo sự đoán phạt Ba-by-lôn (17:1, 5).

Một thiên sứ lại rao báo sự suy sụp của Ba-by-lôn (18:2).

Một thiên sứ dự phần đánh cho Ba-by-lôn một đòn chí tử (18:21).

Một thiên sứ cầm đầu sự hủy diệt Ba-by-lôn (19:17).

Một thiên sứ xiềng xích Sa-tan lại (20:1, 2).

Một thiên sứ chỉ cho Giăng thấy thành Giê-ru-sa-lem mới (21:9).

12 thiên sứ gác 12 cổng thành Giê-ru-sa-lem mới (21:19).

Một thiên sứ cấm Giăng thờ lạy mình (22:9).

Như vậy, trong sách Khải Huyền nầy, có 27 lần nói đến sự hoạt động của các thiên sứ. Trong nguyên văn, chữ "thiên sứ" nghĩa là "sứ giả." Theo như Kinh Thánh đã dùng, thì chữ nầy phần nhiều ứng dụng cho các thân vị siêu nhiên của thế giới vô hình, dùng làm sứ giả hầu việc Ðức Chúa Trời hoặc quỉ Sa-tan.

Các thiên sứ xuất hiện rất nhiều trong cuộc đời Ðức Chúa Jêsus. Suốt cả Kinh Thánh có nói nhiều về các thiên sứ.

Một số người cho rằng "thiên sứ" của các Hội Thánh (2:1, v.v...) là những sứ giả do các Hội Thánh gởi tới thăm Sứ đồ Giăng ở đảo Bát-mô, hoặc là Mục sư của các Hội Thánh ấy, hoặc là thiên sứ bảo vệ các Hội Thánh ấy, hoặc là đại diện thiên thượng của các Hội Thánh ấy.

Do sự dắt dẫn của Ðức Chúa Trời, trong bảy bức thơ nầy, Giăng diễn tả Thiên đàng nhận xét giá trị của các Hội Thánh trên mặt đất thể nào.

 

Ðoạn 2, 3 -- Thơ gởi cho bảy Hội Thánh

Mỗi thơ gồm cả sách Khải Huyền, và có một sứ điệp ngắn ngủi đặc biệt cho mỗi Hội Thánh. Chúng tôi đoán rằng sách Khải Huyền đã chép thành bảy bản, và gởi tới mỗi thành một bản. Như vậy, mỗi Hội Thánh chẳng những có thể đọc biết Chúa đánh giá chính mình, song còn có thể đọc biết Chúa đánh giá các Hội Thánh khác nữa. Cả đến ngày nay, các chi hội cũng có thể nhờ những bức thơ nầy mà tự đánh giá mình.

 

Tánh chất của các Hội Thánh

Hai Hội Thánh rất tốt: Si-miệc-nơ và Phi-la-đen-phi.

Hai Hội Thánh rất xấu: Sạt-đe và Lao-đi-xê.

Ba Hội Thánh vừa tốt, vừa xấu: Ê-phê-sô, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ.

Hai Hội Thánh tốt, là Si-miệc-nơ và Phi-la-đen-phi, gồm những người thuộc giai cấp thấp thỏi và đang chịu bắt bớ.

Hai Hội Thánh xấu, là Sạt-đe và Lao-đi-xê, gồm những người thuộc giai cấp cầm quyền; họ có tiếng là tín đồ Ðấng Christ, nhưng sống như người ngoại đạo.

Hội Thánh Ê-phê-sô dạy đạo chánh thống, nhưng đã mất lòng kính mến ban đầu.

Hội Thánh Bẹt-găm theo tà giáo, nhưng vẫn trung thành với Danh Ðấng Christ.

Hội Thánh Thi-a-ti-rơ theo tà giáo, dung thứ Giê-sa-bên, nhưng có thêm lòng sốt sắng.

 

Tà giáo

Nó liên quan đến tội "tà dâm" và tội "ăn thịt cúng thần tượng" (2:20). Dâm dục thật là một phần trong sự thờ lạy thần tượng, và được nhìn nhận là thích hợp với những buổi lễ ngoại đạo. Bọn tăng nữ của tà thần Ði-anh và của những tà thần giống như vậy đều là kỵ nữ.

Ðó là một vấn đề rắc rối cho Hội Thánh dân ngoại từ lúc ban đầu. Bức thông điệp của các Sứ đồ tại Giê-ru-sa-lem gởi cho Hội Thánh dân ngoại gần 50 năm trước (Công vụ các sứ đồ, đoạn 15), dầu có tánh chất khoan hồng, song cũng dứt khoát nhấn mạnh rằng tín đồ phải tránh xa những hành động phóng túng liên quan đến sự thờ lạy thần tượng.

Trong thời gian ấy, vô số người ngoại đạo đã trở thành môn đồ Ðấng Christ và đã đem một số ý niệm cũ của mình vào trong đạo mới.

Sự quyến rũ theo nhục dục trong cuộc thờ lạy nữ thần Ði-anh đã đánh mạnh vào bổn tánh loài người; những kẻ quen với sự quyến rũ ấy chẳng dễ từ bỏ nó đâu. Lẽ tự nhiên, họ tìm đủ cách để dung hòa những thói tục ngoại đạo đó với đạo Ðấng Christ. Nhiều kẻ tự nhận là giáo sư đạo Ðấng Christ, tự coi là được Ðức Chúa Trời soi dẫn, song lại binh vực quyền tự do dự phần những thói tục hủ hoại của đạo thờ thần tượng.

Tại Ê-phê-sô, toàn thể các Mục sư Cơ-đốc-giáo loại trừ bọn giáo sư đó. Nhưng tại Bẹt-găm và Thi-a-ti-rơ, dầu chúng tôi chẳng nghĩ rằng phần đông Mục sư giảng dạy như vậy, song họ dung thứ bọn giảng dạy như vậy trong hàng ngũ của mình.

Bảy thơ nầy rập theo một mẫu:

Mở đầu: "Nầy là lời phán của Ðấng..." và "Ta biết công việc ngươi..."

Kết thúc: "Ai có tai, hãy nghe lời Ðức Thánh Linh phán cùng các Hội Thánh..." và "Kẻ nào thắng..."

 

"Nầy là lời phán của Ðấng..."

Tỏ ra một phương diện của bổn tánh Ngài có liên quan đến mỗi Hội Thánh.

Với Hội Thánh Ê-phê-sô lớn lao và mạnh mẽ, song đã mất lòng sốt sắng:

"Nầy là lời phán của Ðấng cầm bảy ngôi sao trong tay hữu..."

Với Hội Thánh Si-miệc-nơ nghèo nàn, đang chịu đau đớn và bắt bớ:

"Nầy là lời phán của Ðấng chết rồi mà đã sống lại..."

Với Hội Thánh Bẹt-găm đang dung thứ bọn giáo sư dạy sự hủ hoại:

"Nầy là lời phán của Ðấng có thanh gươm nhọn hai lưỡi..."

Với Hội Thánh Thi-a-ti-rơ đang thêm lòng sốt sắng, nhưng dung thứ Giê-sa-bên:

"Nầy là lời phán của Con Ðức Chúa Trời, là Ðấng mắt như ngọn lửa..."

Với Hội Thánh Sạt-đe có tiếng là sống, mà thật là chết:

"Nầy là lời phán của Ðấng có bảy vì thần Ðức Chúa Trời..."

Với Hội Thánh Phi-la-đen-phi không có tên tuổi trong đô thị, nhưng trung tín:

"Nầy là lời phán của Ðấng... mở thì không ai đóng được..."

Với Hội Thánh Lao-đi-xê đang hâm hẩm:

"Nầy là lời phán của Ðấng làm chứng thành tín, chơn thật..."

 

"Ta biết công việc ngươi"

Với Hội Thánh Ê-phê-sô: "Ta biết công việc ngươi, sự khó nhọc ngươi, sự nhịn nhục ngươi."

Với Hội Thánh Si-miệc-nơ: "Ta biết sự khốn khó, nghèo khổ của ngươi."

Với Hội Thánh Bẹt-găm: "Ta biết nơi ngươi ở, đó là ngôi của quỉ Sa-tan."

Với Hội Thánh Thi-a-ti-rơ: "Ta biết công việc ngươi, lòng yêu thương ngươi, đức tin ngươi,... lòng nhịn nhục ngươi."

Với Hội Thánh Sạt-đe: "Ta biết công việc ngươi ngươi có tiếng là sống, nhưng mà là chết."

Với Hội Thánh Phi-la-đen-phi: "Ta biết công việc ngươi... ngươi... đã giữ đạo Ta."

Với Hội Thánh Lao-đi-xê: "Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh, cũng không nóng."

 

"Kẻ nào thắng..."

Tại Ê-phê-sô: "Kẻ nào thắng, Ta sẽ cho ăn trái cây sự sống."

Tại Si-miệc-nơ: "Kẻ nào thắng, sẽ chẳng bị hại gì về lần chết thứ hai."

Tại Bẹt-găm: "Kẻ nào thắng, Ta sẽ ban cho ma-na đương giấu kín."

Tại Thi-a-ti-rơ: "Kẻ nào thắng, Ta sẽ ban cho kẻ ấy ngôi sao mai."

Tại Sạt-đe: "Kẻ nào thắng, Ta sẽ không xóa tên người khỏi sách sự sống."

Tại Phi-la-đen-phi: "Kẻ nào thắng, Ta sẽ cho làm trụ trong Ðền Ðức Chúa Trời Ta."

Tại Lao-đi-xê: "Kẻ nào thắng, Ta sẽ cho ngồi với Ta trên ngôi Ta."

 

"Ai có tai, hãy nghe"

Bức thơ nào cũng kết thúc như vậy, dường như Chúa cảnh cáo các Hội Thánh rằng họ thận trọng về lời Ngài phán với mình đó, thì tốt hơn.

Ðoạn 2: 1-7 -- Thơ gởi cho Hội Thánh Ê-phê-sô

Ê-phê-sô, mẫu hội của các chi hội xứ A-si, dân số 225.000 người, là thủ đô và trung tâm thương mại của xứ A-si. Miễu thờ nữ thần Ði-anh tại đó là một trong bảy kỳ quan của thế giới.

Tại đó, 40 năm trước, Phao-lô đã làm việc được thành công hơn hết (54-57 S.C.); có vô số người trở lại tin theo Ðấng Christ đến nỗi sau thời gian rất ngắn, Hội Thánh đã trở nên một ảnh hưởng mạnh nhứt trong đô thị, và một Hội Thánh có danh tiếng nhứt trên thế giới.

Người ta nói rằng sau khi Phao-lô qua đời, thì Ti-mô-thê để hầu hết thì giờ ở tại Ê-phê-sô, và tuận đạo tại đó trong cơn bắt bớ của Domitien, tức là cơn bắt bớ đã khiến cho Sứ đồ Giăng bị đày ra đảo Bát-mô.

Lúc cao tuổi, Sứ đồ Giăng ở tại Ê-phê-sô. Nếu ông không tích cực hành chức Mục sư, thì vì cớ tuổi tác và rốt lại, vì là Sứ đồ của Ðấng Christ còn sống sót, chắc ông cũng có ảnh hưởng lớn nhứt trong vòng các Mục sư.  Theo một phương diện, Ê-phê-sô là chính Hội Thánh của Giăng. Tại đó, ông đã viết năm quyển sách cho Tân Ước: sách Tin Lành, ba thơ tín và sách Khải Huyền.

Có ba thơ tín của Phao-lô liên quan đến công việc Chúa tại Ê-phê-sô: thơ Ê-phê-sô, các thơ I và II Ti-mô-thê. Và người ta cho rằng hai thơ tín của Phi-e-rơ và thơ tín của Giu-đe có lẽ đã được lưu hành trước nhứt tại vùng nầy.

Ê-phê-sô ở vào khoảng giữa đường từ Giê-ru-sa-lem đến La-mã, và gần là trung tâm địa dư của đế quốc La-mã. Lúc sanh tiền của Giăng, nó đã trở thành gần như trung tâm địa dư và nhân số của tín đồ Ðấng Christ trên thế giới.

Khoảng 10 năm sau khi Giăng qua đời, Hoàng đế Trajan sai Pline tới miền A-si để điều tra xem có nên bắt bớ tín đồ Ðấng Christ chăng? Pline gởi phúc trình cho Trajan rằng tín đồ Ðấng Christ đông đúc quá, đến nỗi các miễu thờ tà thần gần như bỏ hoang.

Trong nhiều đô thị của miền nầy, các chi hội Tin Lành rất đông đúc, gồm nhiều phần tử có thế lực, và Ê-phê-sô là chi hội trọng yếu nhứt.

Từ Lễ Ngũ Tuần, là sanh nhật của Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem, tới nay đã được 66 năm. Khắp mọi nơi, Hội Thánh đã phát triển hết sức lớn mạnh. Song các dấu hiệu bại hoại đã bắt đầu lộ ra. Chúng tôi cho rằng đó là một trong các lý do đòi hỏi có sách Khải Huyền.

 

"Hội Thánh Ê-phê-sô" (2:1)

Hội Thánh nầy có từ trước thời người ta quen xây cất nhà thờ. Họ phải nhóm họp ở tiền đàng, nhà riêng hoặc bất cứ nơi nào có thể nhóm họp. Họ không có một đại giáo đường trung ương, song có nhiều, có lẽ hàng trăm hội chúng nhỏ, mỗi hội chúng có Mục sư riêng lãnh đạo. Tuy nhiên, thơ nầy gởi cho "Hội Thánh Ê-phê-sô." (Nên dịch là: "Hội Thánh tại Ê-phê-sô.") Như vậy, có nhiều hội chúng, song chỉ có một Hội Thánh.

 

"Ðấng cầm bảy ngôi sao trong tay hữu" (2:1)

Ðó là biểu hiệu về quyền phép của Ngài. Có lẽ cốt để gợi ý cảnh cáo rằng Hội Thánh đã quá kiêu hãnh vì uy tín của mình, đã khoe khoang về những cái chẳng ích lợi bao nhiêu cho sứ mạng chân chánh của mình.

 

Những Sứ đồ giả (2:2)

Rõ ràng lắm, đây là những kẻ tự nhận đã quen biết Ðấng Christ và được Ngài ban cho quyền dạy dỗ; họ cố gắng dung hòa sự phóng túng hủ hoại của đạo thờ thần tượng với đạo thuần túy của Ðấng Christ.

Người ta cho rằng "đảng Ni-cô-la" (2:6) là một phái binh vực rằng sự hoang dâm là một cách sống thích hợp.

Các giáo sư giả nầy đã gây nhiều rắc rối, khó khăn trong Hội Thánh. Dường như toàn thể các Mục sư tại Ê-phê-sô kiên nhẫn và vững vàng chống lại sự dạy dỗ của chúng; vì cớ đó, Chúa khen ngợi họ (2:2, 3).

 

"Ðã bỏ lòng kính mến ban đầu" (2:4, 5)

Ðó là tội lỗi của họ. Lòng sốt sắng của họ đối với Ðấng Christ đã nguội đi. Họ không còn kính mến Ngài như trước nữa. Họ đã hóa ra lãnh đạm, phân tâm; chưa hâm hẩm như Hội Thánh Lao-đi-xê (3:16), nhưng đang tiến theo hướng đó. Tình trạng nầy làm đau lòng Ðấng Christ. Vì cớ đó, họ bị quở trách thấm thía, và Ngài cảnh cáo họ hãy ăn năn (2:5); bằng không, "chơn đèn của họ sẽ bị cất khỏi chỗ nó." Và thật đã có như vậy, vì vị trí thành Ê-phê-sô ngày nay hoang vu.

 

"Cây sự sống" (2:7)

Chúa hứa ban "trái cây sự sống" cho những ai thắng được sức quyến rũ của tà giáo và sự tự nhiên cám dỗ theo phóng túng xác thịt và khoái lạc trần tục.

Dầu Hội Thánh Ê-phê-sô đã tiêu mất, song lời hứa ban trái cây sự sống vẫn còn hiệu lực cho những cá nhân đắc thắng, bất cứ họ thuộc về Hội Thánh nào.

 

Khảo cổ học và thành Ê-phê-sô

Thành Ê-phê-sô đã được đào bới bởi J.T.Wood (1869-1873), bởi nhân viên Anh quốc Bảo tàng viện (1904-1905), và bởi một phái đoàn Áo quốc (1894-1930).

Họ đã phám phá được di tích miễu thờ nữ thần Ði-anh, cùng di tích của rạp hát, nơi đám dân làm loạn đã hội họp (Công vụ các sứ đồ 19:29).

Họ cũng tìm thấy di tích một nhà tắm La-mã, xây toàn bằng cẩm thạch, có nhiều phòng: phòng hơi nước, phòng lạnh, phòng để nằm ngả nghiêng; đó là bằng cớ tỏ ra sự xa hoa, mỹ lệ của đô thị nầy.

Họ cũng tìm thấy một miễu thờ trong có tượng của Hoàng đế Domitien, người đã tự xưng là "Ðức Chúa Trời," đã đày Giăng ra đảo Bát-mô, và đã bắt bớ tín đồ Ðấng Christ đang khi những sự hiện thấy của sách Khải Huyền nầy được ban cho Giăng.

 

Ðoạn 2:8-11 -- Thơ gởi cho Hội Thánh Si-miệc-nơ

Ðây là Hội Thánh đang chịu đau đớn. Không có lời quở trách nào, toàn là lời yên ủi từ ái.

Si-miệc-nơ cách Ê-phê-sô chừng 50 dặm về phía Bắc, là một đô thị mỹ lệ khác thường, xây dựng trên một vũng biển đẹp đẽ. Nó là địch thủ ngang hàng với Ê-phê- sô, và lại hãnh diện vì theo truyền thoại, nó là nơi sanh trưởng của Homère.

Ðương thời ấy, vị Giám mục tại Si-miệc-nơ, là ông Polycarpe yêu quí. Irénée, người đã trò chuyện với Polycarpe, nói rằng Sứ đồ Giăng đã cử Polycarpe làm Giám mục tại Si-miệc-nơ. Hội Thánh nầy gồm những người nghèo, không có số đông hoặc uy tín như Hội Thánh Ê-phê-sô. Họ "nghèo khổ" nhưng lại "giàu có," trái với Hội Thánh Lao-đi-xê, tuy "giàu có" nhưng lại "nghèo ngặt" (3:17).

"Ðấng chết rồi mà đã sống lại" (Nên dịch là: "Mà nay đang sống.") (2:8)

Ðối với những người đang tuận đạo, lời trên đây nhắc họ nhớ rằng Ngài đã chịu điều họ sắp phải chịu, và cũng như Ngài, chẳng bao lâu họ sẽ Sống Ðời Ðời Vô Cùng.

 

"Hoạn nạn trong mười ngày" (2:10)

Ðây có lẽ chỉ về một cơn bắt bớ ngắn ngủi. Hoặc có lẽ chỉ về cơn bắt bớ của Trajan sắp bắt đầu, trong đó Ignace tuận đạo; có lẽ cơn bắt bớ nầy đã làm hại Hội Thánh Si-miệc-nơ rất nặng nề. Hoặc "mười ngày" có lẽ chỉ bóng về mười cơn bắt bớ do các Hoàng đế La-mã.

 

"Mũ triều thiên của sự sống" (2:10)

Trong thơ gởi cho Hội Thánh Ê-phê-sô, Chúa hứa ban cho "trái cây sự sống" (2:7). Trong thơ gởi cho Hội Thánh Sạt-đe, Chúa hứa giữ tên trong "Sách Sự Sống" (3:5). Trong thơ gởi cho Hội Thánh Si-miệc-nơ đây, Chúa hứa cho "mũ triều thiên của sự sống" và cho "chẳng bị hại gì về lần chết thứ hai" (2:11; 21:8).

Dầu những lời hứa nầy ban cho các cá nhân đắc thắng, song Si-miệc-nơ, với tư cách một thành, đã được Chúa ban cho một mũ triều thiên: Nó tồn tại trải qua mọi thế kỷ, và hiện nay là đô thị lớn nhứt miền Tiểu-Á-tế-á, 200.000 dân, và tên mới là Izmir.

 

Ðoạn 2:12-17 -- Thơ gởi cho Hội Thánh Bẹt-găm

Ðây là một Hội Thánh trung thành với Danh Ðấng Christ, thậm chí chịu tuận đạo (2:13), nhưng dung chịu bọn giáo sư giả, có lẽ cùng một loại với bọn giáo sư giả ở thành Ê-phê-sô. Tuy nhiên, toàn thể các Mục sư ở Ê-phê-sô đứng vững chống bọn giáo sư giả, còn các Mục sư ở Bẹt-găm dầu chẳng theo tà giáo, song lại dung chịu bọn dạy tà giáo trong hàng ngũ của mình. Tà giáo ấy là tín đồ Ðấng Christ có quyền phóng túng theo hành vi hủ hoại của người ngoại đạo .

Ðối với một Hội Thánh dường ấy, dầu Chúa khen ngợi họ vì trung thành với Danh Ngài, song Ngài cũng tự giới thiệu cùng họ là "Ðấng có thanh gươm nhọn hai lưỡi." Tốt hơn là hãy coi chừng. Hội Thánh của Chúa dung chịu sự phóng túng tội lỗi, thì Chúa sẽ chẳng đẹp lòng đâu.

 

Thành Bẹt-găm.

Cách Si-miệc-nơ chừng 50 dặm về phía Bắc; là thủ đô chánh trị của" xứ A-si;" một trung tâm văn nghệ; một trung tâm chánh yếu của nền văn hóa Hy-lạp; nổi tiếng vì có thư viện 200.000 cuốn sách, chỉ kém thư viện của thành A-léc-xan-đơ-ri. Giấy da chiên (Parchemin  tốt hơn giấy chỉ thảo (papyrus) của Ai-cập bội phần, đã được chế tạo ở Bẹt-găm. Khi một vua Ai-cập ganh tị vì Bẹt-găm nổi tiếng về phương diện văn nghệ, và cấm chở gi