Mác
Ðức Chúa Jêsus là Ðấng Lạ lùng
Sách Mác đặc biệt nhấn mạnh
vào quyền phép siêu nhân của Ðức Chúa Jêsus, tỏ ra Ngài là Ðức Chúa Trời bởi
những phép lạ Ngài đã làm. Ông bỏ qua Bài Giảng trên Núi và phần nhiều bài
giảng dài của Ðức Chúa Jêsus. Ông tường thuật những việc Ðức Chúa Jêsus làm hơn
là những lời Ngài phán. Dường như ông đặc biệt chú ý đến những độc giả thuộc về
dân ngoại.
Ðoạn 1:1 -- Tiểu dẫn
Sách nầy mở đầu đột ngột,
không một lời tiểu dẫn, và cũng không nói đến tên tác giả. Tuy nhiên, ngay từ
lúc đầu và theo truyền thoại liên tục, sách nầy được kể là tác phẩm của Mác, và
chứa đại cương truyện tích Ðức Chúa Jêsus theo như Phi-e-rơ đã kể.
Mác
Mác (cũng gọi là Giăng), là
con trai của bà Ma-ri; nhà bà ở thành Giê-ru-sa-lem, là nơi hội họp của các môn
đồ (Công vụ các sứ đồ 12:12). Ông là em họ của Ba-na-ba (Cô-lô-se 4:10), nên có
lẽ thuộc về chi phái Lê-vi (Công vụ các sứ đồ 4:36). Người ta phỏng đoán rằng
ông là chàng thanh niên đã "ở truồng chạy trốn" trong đêm Ðức Chúa
Jêsus bị bắt (Mác 14:51-52), là lúc ông mới bắt đầu chú ý đến Ngài. Lời chép ở
I Phi-e-rơ 5:13 có thể có nghĩa là Phi-e-rơ đã dắt đem Mác trở lại tin Chúa.
14 năm sau, khoảng 44 S.C.,
Mác cùng Phao-lô và Ba-na-ba đi đến An-ti-ốt (Công- vụ các Sứ-đồ 12:25), và
theo hai ông ấy trong hành trình truyền giáo đầu tiên, nhưng lại bỏ về. Rồi
sau, khoảng năm 50 S.C., ông muốn theo Phao-lô trong hành trình thứ hai, nhưng
Phao-lô không chịu nhận ông. Do đó mà Phao-lô và Ba-na-ba phân rẽ nhau (Công vụ
các sứ đồ 13:5, 13; 15:37-39). Bấy giờ Mác đi cùng Ba-na-ba đến đảo Chíp-rơ.
Chừng 12 năm sau, khoảng 62
S.C., Mác ở tại kinh thành La-mã với Phao-lô (Cô-lô- se 4:10; Phi-lê-môn 24);
lại 4 hoặc 5 năm sau nữa, ngay trước khi chịu chết vì Danh Chúa, Phao-lô yêu
cầu đưa Mác đến với mình (II Ti-mô-thê 4:11).
Vậy, dường như lúc cao tuổi,
Mác đã trở thành một người giúp việc gần gũi và yêu dấu của Phao-lô.
Mác ở cùng Phi-e-rơ tại
Ba-by-lôn (La-mã?) Khi Phi-e-rơ viết thơ tín thứ nhứt (I Phi-e-rơ 5:13). Theo
truyền thoại của Hội Thánh đầu tiên, thì phần lớn, Mác là đồng bạn của
Phi-e-rơ, và ông viết truyện tích của Ðức Chúa Jêsus theo như ông đã nghe
Phi-e-rơ giảng. Phi-e-rơ là một người hoạt động, và sự trạng đó dường như phản
chiếu trên bút pháp của sách Tin Lành Mác, thí dụ như chữ "tức thì"
(hoặc "liền") được lặp lại luôn.
Người ta cho rằng sách Tin
Lành nầy đã viết và xuất bản tại La-mã, giữa năm 60 và 70 S.C..
Papias
đã nói gì về Mác? Papias, một
môn đệ của sứ đồ Giăng, viết trong quyển "Giải thích các bài giảng của
Chúa" rằng ông đã chuyên tâm hỏi thăm các "trưởng lão" và môn đệ
của các "trưởng lão," và "trưởng lão cũng nói điều nầy: Vì Mác
làm thông ngôn cho Phi-e-rơ, nên ông viết đúng mọi điều mình đã nhớ về lời phán
và việc làm của Ðấng Christ; tuy nhiên, ông không viết theo thứ tự. Ấy là vì
ông chẳng hề nghe Chúa phán và cũng chẳng phải là một kẻ theo Ngài, nhưng về
sau, như tôi đã nói, ông liên kết với Phi-e-rơ. Vả, Phi-e-rơ thuận ứng sự dạy
dỗ với cơ hội, chớ không dạy dỗ dường như soạn thảo một sách chép có mạch lạc
những sấm ngôn của Chúa. Cho nên Mác không lầm lẫn chút nào khi chép những sự
trạng theo như ông ghi nhớ. Vì trong ý tưởng ông có một mục tiêu, -- ấy là
không bỏ sót điều chi mình đã nghe, và không tuyên bố điều chi giả dối."
Bốn Sách Tin Lành
Viết cho ai? -- Bốn sách Tin Lành viết không phải vì mục đích
thương mại, cốt để phân phát cho đại chúng, y như sách vở xuất bản ngày nay.
Nguyên bổn sách Tin Lành Ma-thi-ơ chắc viết cho Hội Thánh ở Giê-ru-sa-lem. Các
chi hội khác đã sao lại nguyên bổn ấy bằng tay. Người ta cho rằng Mác định viết
sách cho Hội Thánh ở thành La-mã, và những bản sao sách nầy cũng được gởi cho
các chi hội khác. Lu-ca viết sách Tin Lành cho một người tên là Thê-ô-phi-lơ,
một nhân viên cao cấp của chánh phủ La-mã. Giăng cốt viết sách Tin Lành của
mình cho Hội Thánh Ê-phê-sô. Dầu Ðức Chúa Trời soi dẫn các ông nầy để viết đúng
điều Ngài muốn họ viết, hầu cho cả loài người thuộc mọi thế hệ sử dụng, nhưng
chắc họ cũng nghĩ tới bối cảnh, là những người trực tiếp đọc sách của mình. Bối
cảnh ấy có ảnh hưởng đến việc họ lựa chọn tài liệu, và chứng minh một phần nào
tại sao lại có những điểm khác nhau.
Cá tánh của tác giả.-- Dầu các tác giả nghĩ tới độc giả của mình, song
khi viết sách, mỗi ông cũng phản chiếu cá tánh của mình. Họ cùng kể một truyện
tích, -- không phải là giải luận một triết lý khó hiểu, mà là thuật lịch sử của
Một Người đã sống thể nào, làm gì và phán gì. Bất cứ nơi nào, họ cũng kể
cùng một truyện tích, nhưng mỗi người kể theo lối riêng, và nêu lên các điều
mình cho là hào hứng đặc biệt. Ðiều nầy cũng chứng minh tại sao họ có những
điểm khác nhau.
"Các mâu thuẫn"
trong 4 sách Tin Lành.-- Ta phải
ngạc nhiên vì trong tác phẩm của nhiều học giả ngày nay, họ tuyên bố một cách
hoàn toàn lơ đảng rằng 4 sách Tin Lành "đầy dẫy mâu thuẫn." Nhưng khi
thấy cái gọi là "mâu thuẫn" là gì, thì anh em hầu như bị cám dỗ mà
không còn quí trọng một số người tự nhận là "học giả." Có một vài chi
tiết khác nhau và có khác nhau chút ít khi mô tả cùng một chi tiết, -- sự kiện
đó làm cho lời chứng của các tác giả càng đáng tin cậy, vì nó phá tan cái khả hữu
thông đồng giữa họ với nhau.
Thời gian viết sách.-- Ngày nay, người ta có khuynh hướng kể rằng sách
Mác được biên trứ trước nhứt. Tuy nhiên, theo truyền thoại chung trong Hội
Thánh đầu tiên, thì Ma-thi-ơ viết sách trước nhứt. Trong các bản chép tay đầu
tiên, 4 sách Tin Lành thường đặt theo thứ tự hiện hữu, để tỏ ra thứ tự trứ tác
y theo truyền thoại trong Hội Thánh đầu tiên. Thỉnh thoảng, sách Giăng được đặt
ở hàng đầu, nhưng sách Mác không bao giờ được đặt ở hàng đầu.
Ðoạn 1:1-8 -- Lời giảng của Giăng Báp-tít
Việc nầy được chép trong cả 4 sách Tin Lành. Xem
lời chú giải ở dưới Lu-ca 3:1-20. Mở đầu sách, Mác trưng dẫn một câu Cựu Ước;
bỏ qua truyện tích Ðức Chúa Jêsus giáng sanh, ông lập tức ghi chép các chi tiết
dồi dào trong đời sống công khai của Ngài.
Ðoạn 1:9-11. Ðức Chúa
Jêsus chịu lễ báp-têm.-- Xem ở Ma-thi-ơ
3:13-17.
Ðoạn 1:12-13. Chúa chịu cám dỗ 40 ngày.-- Xem ở Ma-thi-ơ 4:1-10.
Thời Gian Và Niên Biểu Ðời Sống Công Khai
Của Ðức Chúa Jêsus
Nhằm năm thứ 15 đời trị vì của
Sê-sa Tibère, thì Ðức Chúa Jêsus chừng 30 tuổi (Lu-ca 3:1, 23). Khi Hê-rốt qua
đời, thì Ngài còn thơ ấu (Ma-thi-ơ 2:19-20). Ðiểm nầy ấn định vị trí của Ðức
Chúa Jêsus trong niên lịch La-mã, về sau thay thế bằng niên lịch Cơ đốc giáo
(xem ở dưới Lu-ca 2:39).
Sau khi chịu lễ báp-têm ít
lâu, Ngài đi thăm thành Giê-ru-sa-lem, nhằm kỳ lễ Vượt qua (Giăng 2:13). Lễ
Vượt qua phần nhiều nhằm tháng 4 dương lịch.
Giữa lúc Ngài chịu lễ báp-têm
và lúc Ngài đi thăm thành Giê-ru-sa-lem, có các biến cố chép ở Giăng 1:29 đến
2:12, và 40 ngày cám dỗ (Ma-thi-ơ 4:1-11).
Sự cám dỗ xảy ra ngay sau khi
Ngài chịu lễ báp-têm, và kéo dài 40 ngày (Mác 1:12-13).
Sau cơn cám dỗ, Ngài lại xuất
hiện ở bờ sông Giô-đanh, là nơi Giăng Báp-tít đang giảng,và Ngài ở đó liền 3
"ngày" (Giăng 1:29, 35, 43). "Cách 3 ngày sau," Ngài tới
Ca-na, và làm phép lạ biến nước thành rượu (Giăng 2:1).
Rồi Ngài đi Ca-bê-na-um,
"và chỉ ở tại đó ít ngày thôi" (Giăng 2:12); sau đó, Ngài lên thành
Giê-ru-sa-lem và dẹp sạch Ðền thờ.
Như vậy, 40 ngày cám dỗ, 3
"ngày," rồi "3 ngày sau," rồi "ít ngày thôi" hợp
lại thành thời gian giữa lúc Ngài chịu lễ báp-têm và lễ Vượt qua, tổng cộng chỉ
tới vài ba tháng là cùng.
Thế thì lễ báp-têm đánh dấu
khởi điểm đời sống công khai của Ngài, chắc đã xảy ra nhằm mùa thu, hoặc đầu
mùa đông.
Còn về thời gian Ngài sống
công khai, thì có ghi 3 lễ Vượt qua: khi Ngài dẹp sạch Ðền thờ (Giăng 2:13),
khi Ngài cho 5000 người ăn no nê (Giăng 6:4), và khi Ngài bị đóng đinh vào Thập
tự giá (Lu-ca 22:15).
Nếu "ngày lễ" ở
Giăng 5:1 là lễ Vượt qua, theo như người ta thường giả định, thì sẽ có 4 lễ
Vượt qua, và có 3 năm trọn giữa lễ Vượt qua thứ nhứt và lễ Vượt qua thứ tư. Nếu
là một lễ nào khác cử hành giữa hai lễ Vượt qua, thì chỉ có 3 lễ Vượt qua và 2
năm trọn giữa lễ Vượt qua thứ nhứt và lễ Vượt qua thứ ba.
Như vậy, chức vụ công khai của
Ðức Chúa Jêsus đã kéo dài hoặc chừng 3 năm rưỡi, hoặc chừng 2 năm rưỡi. Phần
nhiều ý kiến chấp nhận 3 năm rưỡi.
Bố Cuộc Ðời Sống Công Khai Của Ðức Chúa
Jêsus
Với niên
biểu có lẽ đúng
|
Mùa thu năm 26 S.C.. |
Lễ báp-têm, ở hạ lưu sông Giô-đanh. Sự cám dỗ, ở đồng
vắng gần đó. Các môn đồ đầu tiên, ở hạ lưu sông Giô-đanh. Phép lạ đầu tiên
tại Ca-na. |
|
Năm 27 S.C.. |
Lễ Vượt qua:
Dẹp sạch Ðền thờ, tại Giê-ru-sa-lem. Phần đầu chức vụ tại xứ Giu-đê: ở hạ lưu
sông Giô-đanh (8 tháng. Xem ở Giăng 3:22-36). |
|
Tháng 12 dương lịch: |
Trở về, qua xứ Sa-ma-ri. Bắt đầu chức vụ tại xứ
Ga-li-lê (2 năm. Xem ở Ma-thi-ơ 4:13-25). |
|
Năm 28 S.C.. |
Lễ Vượt qua
(?): Thăm viếng thành Giê-ru-sa-lem (Giăng 5:1). |
|
Mùa hạ: |
Lựa chọn 12 sứ
đồ. |
|
Năm 29 S.C.. |
Bài Giảng trên
Núi. |
|
Tháng 2 dương lịch (?): |
12 sứ đồ được
sai đi. Giăng Báp-tít bị chém đầu. 12 sứ đồ trở về. |
|
Lễ Vượt qua: |
Cho 5000 người
ăn no nê. |
|
Tháng 10 dương lịch: |
Thăm viếng
thành Giê-ru-sa-lem (Giăng 7:2, 10). |
|
Tháng 11 dương lịch (?): |
Sự Hóa hình. |
|
Tháng 12 dương lịch (?): |
Kết liễu chức
vụ tại xứ Ga-li-lê (xem ở Lu-ca 9:51). |
|
Tháng 12 dương lịch: |
Lại lên thành
Giê-ru-sa-lem (Giăng 10:22). Phần cuối chức vụ tại xứ Giu-đê và chức vụ tại
xứ Pê-rê (chừng 4 tháng). |
|
Năm 30 S.C.. Lễ Vượt qua: |
Chúa chịu đóng đinh vào Thập tự giá. |
* *
*
Chức Vụ Tại Xứ Ga-li-lê
(1:14 đến 10:1)
Chức vụ của Chúa tại xứ
Ga-li-lê chiếm chừng một nửa sách Mác.
Về bố cuộc, xin xem mục biểu
so sánh ở dưới Ma-thi-ơ 4:12.
Về mục biểu niên đại, xin xem
ở dưới Ma-thi-ơ 4:13-25.
Ðoạn 1:14-15 -- Ðức Chúa Jêsus bắt dầu chức vụ
tại xứ Ga-li-lê
Giữa câu 13 và câu 14, nghĩa
là giữa lúc Ðức Chúa Jêsus chịu cám dỗ và lúc Ngài bắt đầu chức vụ tại xứ
Ga-li-lê, ta phải đặt các biến cố chép ở Giăng 1:19 đến 4:54, gồm thời gian
chừng 1 năm.
Các môn đồ đầu tiên, lúc Giăng
làm lễ báp-têm.
Nước biến thành rượu, tại
Ca-na.
Dẹp sạch Ðền thờ.
Nói chuyện với Ni-cô-đem.
Giảng tại hạ lưu sông
Giô-đanh, chừng 8 tháng.
Nói chuyện với người đờn bà
Sa-ma-ri.
Chữa lành con trai quan thị
vệ, từ thành Ca-na.
Bị chối bỏ tại Na-xa-rét
(Lu-ca 4:16-30).
(Xem niên biểu đời sống công
khai của Ðức Chúa Jêsus ở hai trang trước).
Ðức Chúa Jêsus đã giảng ở hạ
lưu sông Giô-đanh và được thành công lớn (Giăng 3:22-24, 4:1-3). Nhưng sự cừu
địch ngày càng gia tăng của người Pha-ri-si (Giăng 4:1-3) và việc Hê-rốt hạ
ngục Giăng Báp-tít (Ma-thi-ơ 4:12) gây nên hiểm họa cho Ðức Chúa Jêsus nếu Ngài
cứ tiếp tục giảng dạy ở miền đó. Vì Ngài phải làm một việc gì trước khi chịu
chết trên Thập tự giá, nên Ngài nghĩ rằng đi xa thành Giê-ru-sa-lem hơn nữa là
thượng sách; vậy, Ngài trở về xứ Ga-li-lê, là nơi sự can thiệp của kẻ khác ít
hơn.
Ðoạn 1:16-20 -- Kêu gọi Si-môn, Anh-rê, Gia-cơ
và Giăng
Việc nầy cũng có chép ở
Ma-thi-ơ 4:18-22 và Lu-ca 5:1-11. Trong 4 ông nầy, thì 3 ông đã tin Ðức Chúa
Jêsus một năm trước lúc Giăng làm lễ báp-têm (Giăng 1:35-42). Bây giờ họ được
kêu gọi làm bạn đồng hành của Chúa. Xem thêm ở dưới Ma-thi-ơ 10 và Mác 3:13-19.
Ðoạn 1:21-28 -- Người bị quỉ ám được chữa lành
Cũng có chép ở Lu-ca 4:21-37. Ðây
là phép lạ thứ nhứt của Ðức Chúa Jêsus làm tại Ca-bê-na-um, theo như có chép
trong Kinh Thánh, sau khi Chúa đóng trụ sở ở nơi ấy. Trước đó ít lâu, Chúa đã
chữa lành con trai quan thị vệ tại Ca-bê-na-um, chỉ bởi một hành động của ý chí
Ngài tại Ca-na, cách đó 15 dặm (Giăng 4:46-54). Về lời chú giải tánh chất quỉ
ám, xin xem ở dưới Mác 5:1-20.
Ca-bê-na-um
Khi tới xứ Ga-li-lê (sau 8
tháng vắng mặt để thi hành phần đầu chức vụ tại xứ Giu-đê), thì Chúa ghé thành
Ca-na; tại đây, gần 1 năm trước, trong nhà một người bạn hoặc bà con, Ngài đã
biến nước thành rượu. Sau khi chữa lành cho con trai quan thị vệ, Ngài bèn đến
thành Na-xa-rét, nhưng dân chúng chối bỏ Ngài (xem ở Lu-ca 4:16-30). Bấy giờ
Ngài định cư tại Ca-bê-na-um, lấy đó làm trung tâm đi ra tiếp tục chức vụ giảng
dạy và chữa bịnh. Có lẽ Ngài đã mướn một căn nhà. Hoặc có lẽ Ngài lấy nhà của
Phi-e-rơ hoặc của Giăng làm nơi cư ngụ chính. Từ Ca-bê-na-um, Ngài du hành rất
nhiều trải qua xứ Ga-li-lê, thỉnh thoảng Ngài đi lên Giê-ru-sa-lem, hoặc tới
các miền ở phía Bắc xứ Ga-li-lê. Ngài đi bộ, thường có một nhóm môn đồ theo
hầu, và thường cũng có những đoàn dân đông đúc theo sau.
Người ta cho rằng Ca-bê-na-um
chính là đống hoang tàn ngày nay gọi là Tel
Hum, cách nơi sông Giô-đanh đổ vào biển Ga-li-lê 3 dặm về phía Tây nam. Xem
thêm ở dưới Lu-ca 7:1-10, và bản đồ ở dưới Mác 6:45-52.
Ðoạn 1:29-31 -- Bà gia của Phi-e-rơ được chữa
lành
Cũng có chép ở Ma-thi-ơ
8:14-15 và Lu-ca 4:38-39. Như vậy, Phi-e-rơ có vợ. Phép lạ đầu tiên của Ðức
Chúa Jêsus là một phước giáng trên hôn nhân. Ðây, Ngài chữa lành bà gia vị sứ
đồ thủ lãnh của Ngài. Thật kỳ lạ, các nhà lãnh đạo Giáo hội kia tự thấy buộc
phải nhận theo một hình thức thánh khiết mà người họ tôn là "Thủ lãnh đầu
tiên" không hề buộc phải vâng giữ.
Ðoạn 1:32-34 -- Rất đông người được chữa lành
Cũng có chép ở Ma-thi-ơ
8:16-17 và Lu-ca 4:40-41. Việc nầy xảy ra sau lúc mặt trời lặn, vì mặt trời lặn
đánh dấu hết ngày Sa-bát. Luật ngày Sa-bát rất nghiêm nhặt (xem ở Mác 3:1-6). "Trước
cửa" (câu 33), -- dường như là cửa của nhà Phi-e-rơ. Tin Chúa chữa lành
người bị quỉ ám và bà gia Phi-e-rơ đã đồn ra khắp thành, nên rất đông người đem
kẻ đau đến, tụ tập quanh nhà. Và Ðức Chúa Jêsus chữa lành cho họ. Chính các
phép lạ của Ngài đã kéo dân chúng đến đông đúc. Ánh sáng thương xót của Ðức
Chúa Trời đối với nhân loại đau khổ đã bắt đầu chói lọi. Thật là một ngày trọng
đại tại thành Ca-bê-na-um.
Ðoạn 1:35-37 -- Ði tẻ để cầu nguyện
Cũng có chép ở Lu-ca 4:42-43. Thật
là một ngày bận rộn. Ðức Chúa Jêsus đã chữa lành có tới mấy trăm người. Ngài
được sử dụng quyền phép của Ðức Chúa Trời, và đã dùng quyền phép ấy cốt yếu để
giảm bớt sự đau đớn của loài người. Lúc nầy, Ngài đang ở cực độ của chức vụ
công khai, nhưng Ngài thường lánh khỏi dân chúng, đến nơi cô tịch để tìm cách
giữ cho con đường thông công giữa Ngài và Ðức Chúa Trời được mở rộng và sáng
sủa. Xem lời chú giải về đời sống cầu nguyện của Ngài ở dưới Lu-ca 11:1-13.
Ðoạn 1:38-39 -- Du hành quanh xứ Ga-li-lê
Ðức Chúa Jêsus du hành nhiều
lần, và thỉnh thoảng trở về Ca-bê-na-um (Ma-thi-ơ 4:23-25; 9:35-38; Lu-ca
4:44). Xứ Ga-li-lê có nhiều đại lộ quốc tế danh tiếng chạy qua, nối liền sông
Ơ-phơ-rát với sông Ni-lơ. Cũng có nhiều đường nhánh. Xem bản đồ ở dưới Mác
3:7-12.
Ðoạn 1:40-45 -- Người phung được sạch
Cũng có chép ở Ma-thi-ơ 8:2-4
và Lu-ca 5:12-16. Bịnh phung là một bịnh gớm ghiếc và đáng thương. Người phung
phải ở riêng. Ðức Chúa Jêsus bảo người phung nầy đến trình diện với các thầy tế
lễ, vì luật pháp buộc người phung đã được chữa lành và sẵn sàng trở về đời sống
xã hội phải làm như vậy (Lê vi ký 13-14). Ngài bảo anh ta chớ nói chi về phép
lạ nầy, kẻo phong trào quần chúng tôn Ðức Chúa Jêsus làm Vua sẽ không sao kiềm
chế được.
Ðoạn 2:1-12 -- Người bại được chữa lành
Cũng có chép ở Ma-thi-ơ 9:2-6
và Lu-ca 5:18-26. Việc nầy có lẽ xảy ra trong nhà Phi-e-rơ. Chắc Phi-e-rơ đã
trực tiếp kể các chi tiết cho Mác. Chắc là nhà rộng lắm, mới chứa được đám đông
dường ấy. Nhà nầy xây chung quanh một cái sân, hoặc là một dãy nhà liền nhau,
xây chung quanh một sân vuông vức. Có lẽ Ðức Chúa Jêsus ngự nơi hiên lợp ngói ở
phía trong sân. Nhà chắc có một thang ở phía ngoài. Không thể chở người bại nằm
trên giường qua những cửa có đông người chen chúc. Ý họ quyết định đến gần Ðức
Chúa Jêsus đã đẹp lòng Ngài. Ðức Chúa Jêsus luôn luôn đẹp lòng khi thấy người
ta tin Ngài có quyền phép để chữa lành. Ngày nay đức tin dường ấy chắc cũng còn
đẹp lòng Ngài.
Danh tiếng Ðức Chúa Jêsus lan
ra khắp chốn đến nỗi người Pha-ri-si, các thầy thông giáo từ thành
Giê-ru-sa-lem và khắp xứ (Lu-ca 5:17) đã kéo đến để điều tra. Trước mắt chỉ
trích và hằn hộc của chúng, Ðức Chúa Jêsus quả quyết Ngài là Ðức Chúa Trời bằng
cách tuyên bố tha tội cho người bại, rồi Ngài làm phép lạ để chứng minh lời quả
quyết đó. Ðây là một phép lạ mà Ðức Chúa Jêsus phán rằng Ngài làm cốt để chứng
tỏ mình là Ðức Chúa Trời. Phép lạ nầy có hiệu lực lạ lùng trên dân chúng, song
chỉ càng chọc giận những người Pha-ri-si lòng đã đui mù.
Ðoạn 2:13-17 -- Kêu gọi lê-vi (Ma-thi-ơ)
Ðức Chúa Jêsus vừa mới lựa
chọn 4 người đánh cá làm đồng chí của Ngài trong sự thiết lập Nước Ngài. Bây
giờ Ngài tuyển thêm một người thâu thuế. Ngài bỏ qua bọn thủ lãnh tôn giáo
trong nước như vậy, há chẳng kỳ lạ lắm sao? về lời chú giải Ma-thi-ơ, xin xem
"Tiểu dẫn sách Ma-thi-ơ" và Ma-thi-ơ đoạn 10.
Ðoạn 2:18-22 -- Câu hỏi về sự kiêng ăn
Cũng có tường thuật ở Ma-thi-ơ
9:14-17 và Lu-ca 5:33-38. Có lẽ nhơn cơ hội Ðức Chúa Jêsus dự tiệc do Ma-thi-ơ
thết; điều nầy làm cho các môn đồ của Giăng Báp-tít, người Pha-ri-si, và có lẽ
cả một vài môn đồ của Ðức Chúa Jêsus ngạc nhiên lắm. Dự tiệc thì khác hẳn cách
Giăng Báp-tít đã sống. Có thể có những lúc khủng hoảng mà sự kiêng ăn là một
cách thích hợp để tỏ ra ta hạ mình, ăn năn và sốt sắng vì đạo. Trong trường hợp
của Giăng Báp-tít, sự kiêng ăn có ý nghĩa đặc biệt (xem ở dưới Lu-ca 3:1-20). Nhưng
bọn người trong tôn giáo đương thời Ðức Chúa Jêsus đã kiêng ăn thái quá! Ðức
Chúa Jêsus không quá coi trọng sự kiêng ăn theo như họ thường thực hành
(Ma-thi-ơ 6:16-18). Môi-se, Ê-li và Ðức Chúa Jêsus đều đã kiêng ăn 40 ngày,
nhưng là trong một giai đoạn hết sức căng thẳng. Ba ẩn dụ về chàng rể, áo rách
và bầu da cũ đựng rượu dường như có ý nghĩa rằng có những cơ hội mà sự kiêng ăn
thích hợp, nhưng trong cuộc sanh hoạt thường ngày, thì nó không đúng chỗ, nhứt
là nếu họ hay làm để quảng cáo cho sự thánh khiết, đạo đức của mình (Ma-thi-ơ
6:16-18).
Ðoạn 2:23-27 -- Ăn lúa mì trong ngày Sa-bát
Truyện nầy cũng có chép ở
Ma-thi-ơ 12:1-8 và Lu-ca 6:1-5. Cựu Ước có những luật pháp khá nghiêm nhặt về
sự giữ ngày Sa-bát, nhưng truyền thuyết của người Do-thái đã thêm nhiều sự hạn
chế thái quá và phi lý đến nỗi làm mất cả ý định nguyên thủy của Ðức Chúa Trời.
Lời Ðức Chúa Jêsus quả quyết rằng Ngài là Chúa ngày Sa-bát, thì cũng tương
đương với một lời tự nhận là Ðức Chúa Trời.
Ðoạn 3:1-6 -- Chữa bịnh trong ngày Sa-bát
Việc nầy cũng có chép ở
Ma-thi-ơ 12:9-14 và Lu-ca 6:6-11. Sự chữa lành người teo tay trong ngày Sa-bát
đã chọc giận người Pha-ri-si và phe Hê-rốt đến nỗi chúng lập mưu giết Ðức Chúa
Jêsus. Ðối với bọn đạo đức nhà nghề, cứng lòng và bại hoại nầy, thì một việc
nhân đức tầm thường trong ngày Sa-bát cũng là một trọng tội kinh khiếp. Những
bọn sát nhân và bất lương có thể tàn ác hơn chăng? Hãy suy nghĩ, bọn đồng đảng
của Hê-rốt, là tên trùm sát nhân, mà cũng quá câu nệ về sự giữ ngày Sa-bát! Kinh
Thánh chép 7 lần Ðức Chúa Jêsus chữa bịnh trong ngày Sa-bát (xem ở dưới Giăng,
đoạn 5).
Ðoạn 3:7-12 -- Các đoàn dân đông và các phép
lạ
Các đoàn dân đông đến thăm Ðức
Chúa Jêsus và theo Ngài, đã được thúc đẩy bởi hai lý do: Một, để được Ngài chữa
cho kẻ bịnh, và hai, toàn dân trông mong Ngài là Ðấng Mê-si.
Ðời sống công khai của Ðức Chúa Jêsus phần lớn đã diễn ra ở xứ
Ga-li-lê. Kinh Thánh chép Ngài thăm viếng Giê-ru-sa-lem 5 lần; và chép Ngài đi
tẻ khỏi quần chúng 3 lần: tới miền Si-đôn và Ty-rơ; tới Sê-sa-rê Phi-líp; và
tới đồng vắng Ép-ra-im để chờ lúc chịu chết.

Bản đồ số 46 -- Những hàng chấm
chỉ tỏ các con đường chính
đương thời Ðức Chúa Jêsus
Ðoạn 3:13-19 -- Lựa chọn 12 Sứ đồ
tên của 12 Sứ đồ được chép ở 4 chỗ (xin xem dưới
đây). Một vài ông có hai tên, hoặc một biệt hiệu, hay là một tên đặt cách khác.
Chúng ta không biết tại sao Ðức Chúa Jêsus lựa chọn 12 Sứ đồ. Trong số 12 ông,
có 3 ông họp thành một nhóm thân cận với Chúa. Ngoài 12 Sứ đồ nầy, Chúa còn sai
70 môn đồ đi làm nhiệm vụ đặc biệt (câu 3, 12). Các số 3, 12, 70 hay dùng trong
Kinh Thánh với ý nghĩa tượng trưng. 12 chi phái Y-sơ-ra-ên là nền tảng của quốc
gia Hê-bơ-rơ. 12 Sứ đồ đã đặt nền tảng của Hội Thánh (Khải Huyền 21:12-14). Môi-se có 70 trưởng
lão. Tòa công luận gồm 70 nhân viên. Những con số nầy có thể có một ý nghĩa thần
bí mà chúng ta không biết.
Trong số 12 Sứ đồ, có 4 ông
làm nghề đánh cá. Một ông làm nghề thâu thuế. Một ông thuộc phái cuồng tín. Chúng
ta không biết mấy ông kia làm chi. Hết thảy là người Ga-li-lê, trừ Giu-đa, kẻ
phản Chúa. Trong nhóm nầy, không có một ai thuộc giới đạo đức chuyên nghiệp,
không có một ai quảng cáo sự tin kính của mình bằng cách phục sức. Phao-lô về
sau nhập đoàn Sứ đồ, là người Pha-ri-si độc nhứt.
|
Ma-thi-ơ 10:2-4 |
Mác 3:16-19 |
Lu-ca 6:12-16: |
Công vụ 1:13 |
|
1. Si-môn 2. Anh-rê 3. Gia-cơ 4. Giăng 5. Phi-líp 6. Ba-thê-lê-mi 7. Thô-ma 8. Ma-thi-ơ 9. Gia-cơ, (con của A-phê) 10. Tha-đê 11. Si-môn, (người Ca-na-an) 12. Giu-đa Ích-ca-ri-ốt |
1. Si-môn 2. Gia-cơ 3. Giăng 4. Anh-rê 5. Phi-líp 6. Ba-thê-lê-mi 7. Ma-thi-ơ 8. Thô-ma 9. Gia-cơ, (con của
A-phê) 10. Tha-đê 11. Si-môn, (người Ca-na-an) 12. Giu-đa Ích-ca-ri-ốt |
1. Si-môn 2. Anh-rê 3. Gia-cơ 4. Giăng 5. Phi-líp 6. Ba-thê-lê-mi 7. Ma-thi-ơ 8. Thô-ma 9. Gia-cơ, (con của
A-phê) 10. Si-môn Xê-lốt(1) 11. Giu-đe, (con của Gia-cơ) 12. Giu-đa Ích-ca-ri-ốt |
1. Phi-e-rơ 2. Gia-cơ 3. Giăng 4. Anh-rê 5. Phi-líp 6. Thô-ma 7.
Ba-thê-lê-mi 8. Ma-thi-ơ 9. Gia-cơ, (con của A-phê) 10. Si-môn
Xê-lốt 11. Giu-đe, (con của Gia-cơ) 12. Ma-thia |
Phi-e-rơ. Ông được nói đến lần
đầu tiên lúc Giăng làm lễ báp-têm (Giăng 1:40-42). Lúc ông gặp Ðức Chúa Jêsus
lần đầu tiên mà Kinh Thánh chép đây, thì Ngài đổi tên cho ông, dường như Ngài
đã nhứt định chọn ông làm Sứ đồ. "Si-môn" là tên thiên nhiên của ông.
Tên mới của ông là "Phi-e-rơ" (tiếng Hi-lạp), "Sê-pha"
(tiếng Araméen), cả hai nghĩa là "Ðá." Tên nầy được tái xác nhận 3
năm sau, lúc ông xưng Ngài là Ðấng Christ (Ma-thi-ơ 16:18).
Phi-e-rơ có vợ (Mác 8:14;
Ma-thi-ơ 1:30; Lu-ca 4:38). Bà cùng đi với ông khi ông hành chức Sứ đồ (I
Cô-rinh-tô 9:5). Ông nguyên quán ở Bết-sai-đa (Giăng 1:44), và có nhà ở
Ca-bê-na-um (Mác 1:29). Hoặc ông có hai nhà, hay là đã từ Bết-sai-đa dời đến ở
Ca-bê-na-um.
Ông làm nghề đánh cá chung với
Gia-cơ và Giăng (Lu-ca 5:10). Rõ ràng lắm, ông là một nhà doanh nghiệp khá giả.
Ông có nghị lực, hăng hái, hay
xung động, và nóng nảy. Ông sanh ra để làm lãnh tụ, và có nhiều bổn chất loài
người. Ông thường là phát ngôn nhân của 12 Sứ đồ.
Tên "Ðá" Ðức Chúa
Jêsus đặt cho ông thật đã tỏ ra tâm tánh thật của ông mà Ngài hiểu rõ lắm: Ông
có sức mạnh của sự tin quyết, can đảm, dạn dĩ, mặc dầu ông đã ba lần chối Chúa
và một lần "giả dối" tại An-ti-ốt (Ga-la-ti 2:11-14). Ông tuyệt đối
không sợ hãi trong cơn bắt bớ. Ông đã đặt nền tảng cho Hội Thánh xứ Giu-đê, và
dắt dẫn Hội Thánh ấy với một sức xung kích làm cho những kẻ cầm quyền phải
khủng khiếp, thất kinh.
Ông không phải là Giáo hoàng. Ðấng
Christ không hề ban cho ông địa vị cao cả; chính ông cũng không đòi địa vị ấy,
và người khác cũng không nhìn nhận ông có địa vị ấy. Ông tự xưng là
"trưởng lão như họ" (I Phi-e-rơ 5:1), chớ không phải là "Chúa
của các Giám mục." Xem thêm ở dưới "Tiểu dẫn thơ I Phi-e-rơ."
Giăng. Xem lời chú giải tiểu dẫn sách Tin Lành Giăng.
Ma-thi-ơ. Xem lời chú giải tiểu dẫn sách Tin Lành Ma-thi-ơ.
Gia-cơ. Anh của Giăng. Ðức Chúa Jêsus đặt tên cho hai anh
em là "Bô-a-nẹt," -- con trai của sấm sét. Ðiều nầy há chẳng tỏ ra
rằng có lẽ Ðức Chúa Jêsus có óc hài hước vui vẻ, sao? Chúng ta không biết nhiều
về Gia-cơ. Trong 12 Sứ đồ, ông là người chết đầu tiên, vì bị Hê-rốt giết (năm
44 S.C.). Tuy khác nhau và không chắc đúng, nhưng các truyền thoại đều cho là
cả 12 Sứ đồ đã tuận đạo.
Có hai gia đình chung nhau làm nghề đánh cá: hai
anh em Gia-cơ, Giăng, cùng Xê- bê-đê, là cha họ, và hai anh em Si-môn, Anh-rê.
Họ có nuôi tôi tớ. Chắc sự làm ăn của họ khá lớn lao. Cả 4 ông đã trở thành Sứ
đồ. Trong số 4 ông nầy, thì 3 ông thân cận với Ðức Chúa Jêsus hơn hết. Về toàn
thể, chắc 12 Sứ đồ ở bậc cao nhứt, vì Ðức Chúa Jêsus biết người ta, và Ngài kén
những tay ưu tú trong xứ. 3 ông nầy chắc là xuất sắc biết bao!
Anh-rê. Nguyên quán ở Bết-sai-đa. Ông và Giăng là môn đồ
đầu tiên của Ðức Chúa Jêsus. Ông dẫn anh mình, là Phi-e-rơ, đến cùng Ðấng
Christ. Theo truyền thoại, ông đã giảng ở Tiểu-Á-tế-á, Hi-lạp và xứ Sy-the
(Nga).
Phi-líp. Nguyên quán ở Bết-sai-đa. Người đồng hương của
Anh-rê và Phi-e-rơ. Ông đã dẫn Na-tha-na-ên đến cùng Ðấng Christ. Ðó là một sự
tích cực thay đổi ý kiến. Theo truyền thoại, ông đã giảng ở xứ Phi-ri-gi và qua
đời tại thành Hiérapolis.
Ba-thê-lê-my. Người ta cho rằng đây là biệt hiệu của
Na-tha-na-ên, nguyên quán ở Ca-na, cách Na-xa-rét 3 dặm. Có lẽ do Ba-thê-lê-my
giới thiệu mà Ðức Chúa Jêsus đã đến dự tiệc cưới. Theo truyền thoại, thì ông đã
giảng Tin Lành ở xứ Parthie.
Thô-ma. Một con sanh đôi ("Ði-đim" nghĩa là sanh
đôi). Cẩn thận, hay suy nghĩ, hoài nghi, và hay buồn rầu. Theo truyền thoại,
thì ông đã hầu việc Chúa ở các xứ Sy-ri, Parthie,
Ba-tư và Ấn-độ.
Gia-cơ. Con của A-phê. Cũng gọi là "nhỏ" (Mác
15:40), có lẽ vì vóc giạc ông thấp nhỏ. Theo truyền thoại, thì ông đã giảng ở
xứ Pa-lét-tin và Ai-cập.
Tha-đê. Người ta cho rằng Tha-đê chính là Giu-đe, con của
Gia-cơ, một vài bản cảo lại gọi ông là Lê-ba-út. Theo một truyền thoại, ông đã
được cử đi thăm Abgarus, vua thành Edesse, rồi đi tới các xứ Sy-ri, Ả-rập
và Mê-sô-bô-ta-mi.
Si-môn, thuộc phái "Xê-lốt" (theo tiếng Hi-lạp),
hoặc "người Ca-na-an (theo tiếng Araméen). Chúng ta chẳng biết chi hết về
ông nầy. Phái "Xê-lốt" là một phe quốc gia nhiệt cuồng, trực tiếp đối
lập với bọn thâu thuế. Ðức Chúa Jêsus chọn một người thâu thuế và một người
Xê-lốt, thuộc hai phái cừu địch chí tử, khiến họ trở nên anh em trong Ngài và
trong công việc Ngài.
Giu-đa Ích-ca-ri-ốt. Kẻ phản Chúa. Nguyên quán ở Kê-ri-giốt, một thành
thuộc xứ Giu-đê (Giê-rê-mi 48:24). Ðây là Sứ đồ duy nhứt không phải là người xứ
Ga-li-lê. Tánh nết hà tiện và gian trá. Trông mong được phần thưởng lớn khi
Chúa ngự trên ngôi Ða-vít. Thất vọng khi thấy giấc mộng trần gian của mình tiêu
tan. Sau khi phạm trọng tội đáng gớm ghét, hắn thắt cổ tự tử, rồi té xuống, nứt
bụng, ruột đổ ra hết. Tại sao Ðức Chúa Jêsus chọn hắn, -- đó là một sự bí mật
của thiên cơ mà ta không sao cắt nghĩa được.
Ðoạn 3:20-30. Tội lỗi
không thể tha thứ.-- Xem ở Ma-thi-ơ
12:24-37.
Ðoạn 3:31-35. Mẹ và anh em Ngài.-- Xem ở Ma-thi-ơ 12:46-50.
Ðoạn 4:1-25. Thí dụ về người gieo giống.-- Xem ở Ma-thi-ơ 13:1-23.
Ðoạn 4:30-34. Hột cải.-- Xem ở Ma-thi-ơ 13:31-32.
Ðoạn 4:26-29 -- Thí dụ về hột giống lớn lên
Người ta thường trông mong
rằng Nước của Ðấng Mê-si sẽ được thành lập, có vinh quang và hùng cường làm cho
thế giới rúng động. Thí dụ nầy có nghĩa rằng Nước ấy ban đầu sẽ rất nhỏ, và mở
mang rất chậm chạp, lâu lắc, êm lặng, kín giấu không ai ngờ, song cũng không ai
chống cự được, và cứ tấn tới cho đến kỳ gặt hái.
Ðoạn 4:35-41 -- Dẹp yên cơn bão
Cũng có chép ở Ma-thi-ơ
8:23-27; Lu-ca 8:22-25. Trong chiếc thuyền chòng chành, nghiêng ngửa, các môn
đồ băn khoăn và khủng khiếp, nhưng Ðức Chúa Jêsus ngủ yên. Ngài cần chi phải sợ
hãi? Ngài đã dự phần tạo nên sóng, gió. Chúng ta hết sức muốn biết những phương
thức và quyền năng mầu nhiệm kèm theo lời Ngài phán để dẹp yên các luồng nước
đang cuồng loạn! Chúa đã quở trách các môn đồ nặng nề biết bao! "Tại sao
các ngươi sợ hãi? Ðức tin các ngươi đâu? Trong lúc Ta ở đây, có tai họa nào xảy
đến cho các ngươi được chăng?"
Ðoạn 5:1-20 -- Người Giê-ra-sê bị quỉ ám
Cũng có chép ở Ma-thi-ơ
8:28-34; Lu-ca 8:26-37. Ma-thi-ơ nói là hai người Ga-đa-ra. Mác và Lu-ca nói là
người Giê-ra-sê. Người ta bảo rằng miền Giê-ra-sê chính là khu hoang tàn ngày
nay gọi là "Kerza" (Kersa,
Gergesa). Xem bản đồ ở dưới Mác 6:45-52. Người ta cho rằng Ga-đa-ra ở quá
về phía Nam, gần góc Ðông nam của biển, và là một thành phố lớn hơn lấy tên đặt
cho cả miền phụ cận. Giê-ra-sê là một làng đặc biệt, và biến cố nầy đã xảy ra
gần đó. Nó cách cửa sông Giô-đanh chừng 5 dặm. Ngay phía Nam làng nầy có chỗ
duy nhứt mà các ngọn đồi dốc gần sát mặt nước (Ma-thi-ơ 8:32).
Ma-thi-ơ nói rằng có hai người
bị quỉ ám. Mác và Lu-ca chỉ chép có 1 người, có lẽ vì người nầy điên cuồng và
hung hăng hơn người kia và là phát ngôn nhân. Anh ta là một người điên nguy
hiểm, dữ tợn, có sức mạnh vô biên, ở lõa lồ giữa các mồ mả và trong đồng vắng,
tự đánh bầm mình và kêu la đau đớn.
Có rất nhiều quỉ ở trong 2
người nầy, cả một "quân đội," có lẽ phần nhiều chúng ở trong người
hung hăng hơn. Có 2000 con heo, và có lẽ rất ít là có chừng ấy quỉ.
Chúng lập tức nhìn nhận quyền
hành của Ðức Chúa Jêsus.
Hãy chú ý: Bọn quỉ thích ở
trong bầy heo hơn là về nơi ở của chúng. Nhưng chẳng bao lâu, chúng cũng phải
về đó.
Chúng có thể cai trị 2 người
kia, nhưng không thể cai trị bầy heo. Chúng không đùa bầy heo xuống biển. Hoặc
heo, hoặc quỉ, đều chẳng muốn xuống biển; nhưng bầy heo bị quỉ nhập, đã hoảng
hốt, và không tự chế được trên sườn đồi dốc. Một khi đã cất bước rồi, chúng
không dừng lại được nữa.
Cũng hãy chú ý điều nầy: Thổ
dân muốn Ðức Chúa Jêsus dời khỏi xứ họ, dầu Ngài chữa lành người điên cho họ,
nhưng trong hành động ấy, Ngài đã diệt mất bầy heo của họ. Họ nghĩ đến bầy heo
hơn là nghĩ đến đồng bào mình. Bọn người nầy chưa chết hết đâu.
Ðức Chúa Jêsus bảo người nầy
hãy đi ra nói về mình đã được chữa lành (câu 19). Ngài đã truyền lịnh cho người
phung chớ nói gì về việc mình được chữa lành (Ma-thi-ơ 8:4). Ngài cũng truyền
lịnh ấy cho 2 người mù (Ma-thi-ơ 9:29) và cho nhiều người khác mà Ngài đã chữa
lành tại xứ Ga-li-lê (Ma-thi-ơ 12:16).
Lý do khác nhau như vậy là vì
ở Giê-ra-sê, người ta chưa biết Ngài bao nhiêu, còn ở xứ Ga-li-lê, thì sự quảng
cáo cho Ngài đã quá mức, và đã có những phong trào quần chúng toan tôn Ngài làm
một Vua chánh trị.
Các quỉ
Kinh Thánh chép rằng một số
rất đông người mà Ðức Chúa Jêsus chữa lành đã "bị quỉ ám" (có bản
dịch là: "bị các ma quỉ ám"). Xem Ma-thi-ơ 4:24, 8:16, 9:32, 12:24,
26, 43; Mác 1:24, 32, 34, 3:11, 12; Lu-ca 4:41, 6:18; v.v...
Quỉ là gì? Thật có quỉ chăng? Hay
là Ðức Chúa Jêsus cùng các tác giả Tân Ước nói như vậy vì người ta thường tin
rằng những kẻ bị đau ốm, hoạn nạn đều ở dưới quyền kiểm soát của tà linh, và
Chúa cùng các tác giả ấy không chút cố gắng sữa chữa sự sai lầm của dân chúng
đó?
Trong 4 sách Tin Lành có mô tả
rằng các quỉ biết Ðức Chúa Jêsus là Con Ðức Chúa Trời; rằng chúng thuộc về nước
của Sa-tan, trải qua những chỗ không có nước, chờ đợi sự đau đớn nơi vực sâu,
và thích ở trong bầy heo hơn là đi đến chỗ dành cho chúng. Nhiều quỉ có thể ở
trong một người. Chúng nói và nhìn nhận rằng chúng có cá tánh và tri giác đặc
biệt, phân cách hiển nhiên với người bị chúng ám. Chúng run rẩy chờ đợi ngày
phán xét. Ðức Chúa Jêsus không chú ý đến chúng, song chỉ chú ý đến những người
bị chúng khuấy khỏa và làm cho đau đớn.
Chỉ có một vài trường hợp tật
bịnh bị gán cho quỉ ám. Trong một trường hợp, chúng làm cho một người hóa điên;
một người khác bị chúng làm cho câm; một người khác bị chúng làm cho đui và
câm; một người khác bị chúng làm cho nổi kinh phong. Ðó là hiệu quả do quỉ ám.
Dường như có các "quỉ
dữ" (Lu-ca 7:21), "tà ma" (Mác 1:27), "thần lừa dối"
(I Ti-mô-thê 4:1), "thiên sứ đã phạm tội" (II Phi-e-rơ 2:4),
"quỉ sứ của ma quỉ" (Ma-thi-ơ 25:41). Chúng được tổ chức thành
"chủ quyền," "thế lực," và là "vua chúa của thế gian
mờ tối nầy," là "thần dữ ở các miền trên trời," và người ta phải
giao chiến với chúng luôn luôn (Ma-thi-ơ 12:43, 45, 25:41; II Phi-e-rơ 2:4;
Ê-phê-sô 6:12).
Kinh Thánh ngụ ý khá rõ ràng
rằng "người bị quỉ ám" không phải chỉ điên mà thôi, song còn ở vào
trường hợp "cá tánh bị xâm lăng," và bất cứ phát xuất từ đâu và có
bổn chất nào, quỉ cũng là những thần dữ thật nhập vào và làm khổ một số người
bằng cách nầy hoặc cách khác.
Người ta tưởng rằng đang khi
Ðức Chúa Jêsus ở trên mặt đất, Ðức Chúa Trời đã cho phép ma quỉ đặc biệt ra tay
nghịch cùng Ðức Chúa Jêsus, để chứng tỏ rằng quyền phép của Ngài lan đến tận
thế giới vô hình. Ðức Chúa Jêsus đang hủy diệt đế quốc của Bê-ên-xê-bun và các
quỉ sứ nó. Chúng nghe đến Danh Ngài, hoặc ở trước mặt Ngài, thì chịu không nổi.
Nếu tin Ngài, thì ta được che chở khỏi bất cứ tai họa nào mà chúng có thể gây
nên.
Căn cứ vào những việc thỉnh
thoảng xảy ra trên thế gian nầy, ta hầu như có thể nghĩ rằng cả đến ngày nay,
người ta cũng vẫn bị quỉ ám.
Ðoạn 5:21-43 -- Con gái Giai-ru được sống lại
Các Phép Lạ Của Ðức Chúa Jêsus
Không kể những sự phát hiện
siêu nhiên, tỉ như thiên sứ báo tin, sự giáng sanh bởi nữ đồng trinh, ngôi sao
dẫn đường các bác sĩ, Ðức Chúa Jêsus đi qua các đám dân cừu địch, dẹp sạch Ðền
thờ, hóa hình, bọn lính té sấp, màn tối tăm khi Ngài bị đóng đinh vào Thập tự
giá, bức màn bị xé hai, mồ mả mở ra, cơn động đất, Ðức Chúa Jêsus sống lại, các
thiên sứ hiện ra, v.v., -- Kinh Thánh còn chép 35 phép lạ mà Ðức Chúa Jêsus đã
làm.
17 phép lạ chữa lành th