Ma-thi-ơ

 

Ðức Chúa Jêsus là Ðấng Mê-si

 

Ma-thi-ơ đặc biệt nhấn mạnh rằng Ðức Chúa Jêsus là Ðấng Mê-si mà các tiên tri Cựu Ước đã dự ngôn. Ông trưng dẫn Cựu Ước luôn luôn. Dường như tâm trí ông đặc biệt chăm chú vào các độc giả Do-thái. Mấy chữ "Nước Thiên đàng" thường dùng luôn, nên sách Tin Lành nầy hay được gọi là "Tin Lành của Nước." Dầu về đại cương, chớ không phải từng biến cố, sách nầy theo thứ tự niên đại tổng quát, song tài liệu lại sắp đặt theo đề mục. Sách nầy chép hoàn toàn đầy đủ các bài giảng của Ðức Chúa Jêsus. Nhứt là Bài Giảng Trên Núi, bài giảng về sự tái lâm của Chúa và kỳ tận thế.

 

Ma-thi-ơ

Sách Tin Lành nầy không chỉ đích danh tác giả. Tuy nhiên, từ thời các Giáo phụ Hội Thánh đầu tiên, bắt đầu từ Papias (một môn đệ của sứ đồ Giăng) trở đi, người ta đã công nhận đây là tác phẩm của sứ đồ Ma-thi-ơ.

Chúng ta hầu như không biết gì về Ma-thi-ơ. Ông cũng có tên là Lê-vi. Tên ông có ghi trong 4 danh sách 12 Sứ đồ (Ma-thi-ơ 10:2; Mác 3:18; Lu-ca 6:15; Công-vụ các Sứ-đồ 1:13). Chỉ còn một lần nữa nói đến ông, tức là lúc Ðức Chúa Jêsus kêu gọi ông theo Ngài (Ma-thi-ơ 9:9-13; Mác 2:14-17; Lu-ca 5:27-32).

Ma-thi-ơ chỉ nói một lần về chính mình ông, ấy là ông là nghề "thâu thuế," một danh từ nhục nhã. Nghề nầy chuyên thâu thuế cho chánh quyền La-mã, thường bóp nặn của dân và bị khinh dể. Lu-ca cho chúng ta hay rằng Ma-thi-ơ dọn đại tiệc thết Ðức Chúa Jêsus, rồi "bỏ hết mọi sự, đứng dậy, đi theo Ngài" (Lu-ca 5:28). Nhưng Ma-thi- ơ cũng chẳng vì đó mà tự nhận mình có ít nhiều giá trị. Ông hoàn toàn không thấy mình nữa trong khi thờ lạy Ðấng Anh hùng của mình. Chúng ta quí mến Ma-thi-ơ vì ông có lòng khiêm nhường, tự xóa bỏ mình đi.

Chúng ta phải ngạc nhiên trước ân điển của Ðức Chúa Trời đã lựa chọn một người như vậy làm tác giả quyển Tin Lành gọi là "Sách được đọc nhiều nhứt trên khắp thế giới."

Theo truyền thoại, thì Ma-thi-ơ giảng ở xứ Pa-lét-tin mấy năm, rồi đi ra ngoại quốc; ông đã viết sách Tin Lành trước hết bằng tiếng Hê-bơ-rơ, rồi mấy năm sau, khoảng năm 60 S.C., mới ra một bản hoàn bị hơn bằng tiếng Hi-lạp. Không có chép lời giảng của ông. Nhưng ông trứ tác sách nầy, thì đã phục vụ loài người biết bao!

Ông làm nghề thâu thuế, nên quen biên chép. Ông là thiết hữu của Ðức Chúa Jêsus trong vòng 2 năm, hoặc hơn nữa. Ngày nay nhiều người có giả thuyết rằng Ma-thi-ơ đã "cóp" sách Tin Lành của Mác. Giả thuyết nầy không có gì chứng minh, và "ngay trên mặt nó" đã là phi lý. Không có gì chắc chắn rằng Mác đã quen biết Ðức Chúa Jêsus (xem ở dưới Mác 1:1). Tại sao Ma-thi-ơ phải "cóp" của một người không mắt thấy, tai nghe những điều mà chính mắt ông đã thấy và tai ông đã nghe đi nghe lại nhiều lần?

 

Bốn Sách Tin-Lành

Về mọi phương diện, bốn sách Tin Lành là phần quan trọng nhứt của Kinh Thánh, -- quan trọng hơn mọi phần khác của Kinh Thánh hợp lại, quan trọng hơn tất cả sách vở của thế gian nầy hợp lại. Ấy vì chúng ta có thể không biết mọi sự khác, chớ không thể không biết Ðấng Christ. Các sách Kinh Thánh ở trước 4 sách Tin Lành đã dự ngôn, còn các sách ở sau thì giải thích Vị Anh hùng của 4 sách Tin Lành.

Tại sao lại 4? Trước hết, ta nên biết có nhiều sách hơn là con số 4. Ðương thời ấy có sự hoạt động lớn lao về văn chương; ấy là thời đại của César, Cicéron, Salluste, Virgile, Horace, Sénèque, Livie, Tacile, Plutarque, và Pline. Có thể nói đó là "thời đại Elizabeth"(1) của đế quốc La-mã. Trong vòng một thế hệ, truyện tích Ðức Chúa Jêsus đã truyền khắp thế giới mà người ta được biết thời đó, và thâu được hàng muôn vạn người tận tụy theo Ngài. Lẽ tự nhiên, cần có rất nhiều sách vở trần thuật đời sống của Ngài. Chính Ðức Chúa Trời đã dự phần soạn thảo và gìn giữ bốn sách Tin Lành nầy; và chúng tôi tin rằng Ngài đã làm cho chúng chứa đựng người điều Ngài muốn ta biết về Ðấng Christ. Trong Cựu Ước có một vài bản trần thuật hai lần. Nhưng trong cả Kinh Thánh, chỉ phần nầy có bốn sách luận về một Ðấng. Vậy, tỏ ra Ðấng nầy hệ trọng tuyệt đối.

Các tác giả.-- Ma-thi-ơ vốn làm nghề thâu thuế. Lu-ca là thầy thuốc. Giăng làm nghề đánh cá. Không nói rõ Mác làm gì. Ma-thi-ơ và Giăng là đồng bạn của Ðức Chúa Jêsus. Mác là đồng bạn của Phi-e-rơ. Sách Tin Lành của Mác chứa những điều ông đã nghe Phi-e-rơ thuật lại rất nhiều lần. Lu-ca là đồng bạn của Phao-lô. Sách Tin Lành của ông chứa những điều ông đã nghe Phao-lô kể từ đầu đến cuối đế quốc La-mã, và chính ông đã điều tra để minh xác. Phao-lô và Lu-ca cùng thuật một truyện tích. Hai ông đi khắp bốn phương, và thường đi cùng nhau. Giăng và Phi-e-rơ là hai đồng bạn thân thiết. Mác hợp tác với cả Phi-e-rơ và Phao-lô. Lu-ca và Mác cùng ở La-mã giữa năm 61 và 63 S.C, không xa lúc hai ông chép sách Tin Lành (Cô-lô-se 4:10-14).

Có lẽ các tác giả đã chép sách Tin Lành thành nhiều bản, hoặc một phần, hoặc trọn quyển, cho các chi hội hoặc cá nhân khác nhau. Có thể rằng hết thảy Sứ đồ và những bạn giúp việc họ từng hồi từng lúc, đã viết ra mọi điều họ rao giảng về Ðức Chúa Jêsus cho các chi hội mà họ sáng lập hoặc thăm viếng. Nhưng bất cứ các tác phẩm ấy là gì, chắc phần nhiều đã tiêu mất trong những cuộc bắt bớ của đế quốc La-mã, nhằm ba thế kỷ đầu tiên, trừ ra các tác phẩm ta có trong Tân Ước mà do thiên cơ của Ngài, Ðức Chúa Trời đã canh giữ và bảo vệ, kể đó là đủ truyền Lời Ngài cho mọi thế hệ trong tương lai.

Xem thêm ở dưới Mác 1:1; Lu-ca 1:1; và Giăng 1.

 

Ðoạn 1:1-17 -- Gia hệ của Ðức Chúa Jêsus

Gia hệ nầy cũng có chép ở Lu-ca 3:23-28. Sự ngự đến của Ðấng Christ đã được dự liệu chẳng những từ cõi đời đời ở trên trời, song cũng từ lúc khởi thủy của lịch sử trên trái đất.

Trong đời thái cổ, Ðức Chúa Trời đã chọn một gia tộc đặc biệt, tức là gia tộc Áp-ra-ham; về sau, Ngài lại chọn một gia tộc khác, thuộc trong dòng dõi Áp-ra-ham, tức là gia tộc Ða-vít, làm môi giới do đó Con Ngài sẽ ngự vào thế giới nầy. Quốc gia Hê-bơ-rơ đã được thành lập và được Ðức Chúa Trời che chở trải qua các thời đại, để bảo tồn huyết thống của gia tộc ấy.

Gia hệ trong sách Ma-thi-ơ đã được rút ngắn, bỏ sót vài tên, nhưng chẳng vì đó mà huyết thống nầy thành vô giá trị. 42 thế hệ gồm 2000 năm. Chia ra làm ba phần, mỗi phần 14 thế hệ, có lẽ để cho dễ nhớ: Phần thứ nhứt gồm 1000 năm, phần thứ hai gồm 400 năm, phần thứ ba gồm 600 năm. 3 nhóm, mỗi nhóm có 14 người. 14 là 2 lần 7; 3 và 7 là hai con số thánh.

Tuy nhiên, nhóm thứ ba chỉ nêu tên 13 thế hệ; rõ ràng lắm, thế hệ thứ 14 định dành cho Ma-ri.

Gia hệ chép trong sách Lu-ca hơi khác. Ma-thi-ơ đi ngược lại tới Áp-ra-ham, còn Lu-ca đi ngược lại tới A-đam. Ma-thi-ơ từ trên xuống dưới -- "sanh;" còn Lu-ca đi từ dưới lên trên -- "con."

Từ Ða-vít trở đi, thì có hai huyết thống đặc biệt, riêng rẽ, chỉ hợp nhất trong Sa-la-thi-ên và Sô-rô-ba-bên.

Quan điểm được mọi người thừa nhận là Ma-thi-ơ trình bày tông tộc của Giô-sép, tỏ ra Ðức Chúa Jêsus là Ðấng thừa kế hợp pháp các lời hứa ban cho Áp-ra-ham và Ða-vít, còn Lu-ca trình bày tông tộc của Ma-ri, tỏ ra huyết thống của Ðức Chúa Jêsus, "theo xác thịt thì bởi dòng dõi Ða-vít sanh ra." Theo phong tục Do-thái, thì gia hệ của Ma-ri ở trong tên chồng bà. Giô-sép là "con Hê-li" (Lu-ca 3:23, tức là "con rể" của Hê-li vậy. Hê-li là cha của Ma-ri, còn Gia-cốp là cha của Giô-sép.

Hai gia hệ nầy, dầu đối với chúng ta dường như khô khan, nhưng lại là "xương sống" của sử ký Cựu Ước. Hai gia hệ nầy được gìn giữ cẩn thận trải qua bao nhiêu thế kỷ đầy thăng trầm lịch sử, và chứa "một dòng dõi lưu truyền một lời hứa qua 4000 năm, -- là một thực sự vô song trong lịch sử."

 

So Sánh 4 Sách Tin-Lành Với Nhau

Bốn sách Tin Lành là bốn bản trần thuật song song về cùng Một Người, phần lớn kể lại những sự trạng giống nhau, song cũng có một vài điều khác nhau.

Chỉ có Ma-thi-ơ và Lu-ca thuật lại sự giáng sanh và thời thơ ấu của Ðức Chúa Jêsus. Ma-thi-ơ và Mác chuyên chú vào chức vụ của Ngài tại xứ Ga-li-lê. Lu-ca là người xứ Pê-rê (Pérée), còn Giăng là người xứ Giu-đê. Giăng bỏ qua phần lớn chức vụ của Chúa ở xứ Ga-li-lê, và ghi chép những cuộc Ngài thăm viếng Giê-ru-sa-lem mà mấy tác giả kia bỏ qua. Mấy tác giả kia bỏ qua chức vụ của Ngài ở xứ Giu-đê, trừ ra tuần lễ cuối cùng mà cả bốn ông kể lại khá đầy đủ. Tuần lễ cuối cùng chiếm 1/3 sách Ma-thi-ơ, 1/4 sách Lu-ca và 1/2 sách Giăng. Giăng dành 7 đoạn (gần 1/3 sách của ông) cho ngày Chúa bị đóng đinh vào Thập tự giá , từ lúc mặt trời lặn hôm trước cho tới lúc mặt trời lặn hôm sau.

Ma-thi-ơ có 28 đoạn. Mác có 16 đoạn. Lu-ca có 24 đoạn. Giăng có 21 đoạn. Lu-ca chiếm nhiều trang nhứt và là sách nhiều chữ nhứt. Mác là sách ngắn nhứt.

Quan Sát So Sánh 4 Sách Tin Lành

 

Ma-thi-ơ

Mác

Lu-ca

Giăng

Sự thực hữu của Ðức Chúa Jêsus trước khi thành nhục thể

 

 

 

Giăng 1:1-3

 

Sự giáng sanh và thời thơ ấu của Ðức Chúa Jêsus

Ma-thi-ơ 1, 2;

 

Lu-ca 1, 2

 

 

Giăng Báp-tít

Ma-thi-ơ 3:1-12;

Mác 1:1-8;

Lu-ca 3:1-20;

Giăng
1:6-42

 

Ðức Chúa Jêsus chịu phép báp-têm

Ma-thi-ơ 3:13-17;

Mác 1:9-11;

Lu-ca 3:21-22

 

Sự cám dỗ

Ma-thi-ơ 4:1-11;

Mác 1:12-13;

Lu-ca 4:1-13

 

Phép lạ đầu tiên

 

 

 

Giăng
2:1-11

Khoảng đầu chức vụ tại xứ Giu-đê (chừng 8 tháng)

 

 

 

Giăng
2:13 đến 4:3

Thăm viếng xứ Sa-ma-ri

 

 

 

Giăng
4:4-42

Chức vụ tại xứ Ga-li-lê (chừng 2 năm)

Ma-thi-ơ 4:12 đến 19:1;

Mác 1:14 đến 10:1;

Lu-ca 4:14 đến 9:51;

Giăng 4:43-54; 6:1 đến 7:1

Thăm viếng thành Giê-ru-sa-lem

 

 

 

Giăng 5:1-47

Chức vụ tại xứ Pê-rê và khoảng đầu chức vụ tại xứ Giu-đê (chừng 4 tháng)

Ma-thi-ơ 19, 20;

Mác 10;

Lu-ca 9:51 đến 19:28;

Giăng 7:2 đến 11:57

Tuần lễ cuối cùng

Ma-thi-ơ 21 đến 27;

Mác 11 đến 15;

Lu-ca 19:29 đến 24:1;

Giăng 12 đến 19

Chức vụ sau khi sống lại

Ma-thi-ơ 28;

Mác 16;

Lu-ca 24;

Giăng 20 đến 21

 

Ðoạn 1:18-25 -- Sự giáng sanh của Ðức Chúa Jêsus

Chỉ có Ma-thi-ơ và Lu-ca thuật lại sự giáng sanh và thời thơ ấu của Ðức Chúa Jêsus, mỗi ông kể những biến cố khác nhau. Xem ở dưới Lu-ca 1:5-8.

 

Ðoạn 1:18-24 -- Báo tin cho Giô-sép

Trong ba tháng đầu, sau khi sứ giả thiên thượng đến thăm, thì Ma-ri đi tới nhà Ê-li-sa-bét. Khi nàng trở về Na-xa-rét và Giô-sép biết tình trạng của nàng, thì ông chắc đã đầy "kinh ngạc, bối rối và đau đớn thấm thía." Nhưng ông là người hiền đức, nên sẵn lòng che chở Ma-ri khỏi tình trạng mà ông dự đoán, tức là sự sỉ nhục công khai, hoặc tệ hại hơn nữa. Bấy giờ thiên sứ hiện đến cùng ông mà giải thích. Tuy nhiên, ông vẫn phải giữ sự bí mật của gia đình đó để tránh khỏi lời gièm pha, bêu xấu, vì không một ai chịu tin truyện của Ma-ri. Về sau, khi thần tánh của Ðức Chúa Jêsus đã được chứng minh bởi các phép lạ và sự sống lại từ trong kẻ chết, bấy giờ Ma-ri có thể tự do nói ra sự bí mật thiên thượng của mình và sự thai dựng siêu nhiên của Con Trẻ. Về lời chú giải sự giáng sanh do nữ đồng trinh, xin xem ở dưới Lu-ca 1:26-38.

 

Giô-sép

Các sách Tin Lành ít nói về Giô-sép. Ông cùng Ma-ri đi đến Bết-lê-hem, và ở cùng bà khi Ðức Chúa Jêsus sanh ra (Lu-ca 2:4, 16). Ông ở với Ma-ri lúc dâng Ðức Chúa Jêsus tại Ðền thờ (Lu-ca 2:33). Ông dẫn Ma-ri và Ðức Chúa Jêsus trốn qua Ai-cập, rồi trở về Na-xa-rét (Ma-thi-ơ 2:13, 19-23). Ông đưa Ðức Chúa Jêsus lên Giê-ru-sa-lem năm Ngài 12 tuổi (Lu-ca 2:43, 51). Kinh Thánh chỉ còn nói thêm rằng ông làm nghề thợ mộc và là chủ một gia đình có rất ít là 7 con (Ma-thi-ơ 13:55, 56). Chắc ông là một người hiền đức, đáng làm gương mẫu, nên đã được Ðức Chúa Trời chọn làm cha nuôi của Con Ngài. Người ta thường giả định rằng ông qua đời trước khi Ðức Chúa Jêsus bắt đầu chức vụ công khai, mặc dầu lời lẽ ở Ma-thi-ơ 13:55 và Giăng 6:42 dường như ngụ ý rằng lúc đó ông còn sống. Dầu sao, ông chắc đã qua đời trước khi Ðức Chúa Jêsus bị đóng đinh trên cây Thập tự; bằng không, chắc Ngài chẳng có lý do giao mẹ Ngài cho Giăng săn sóc (Giăng 19:26, 27).

 

Ma-ri

Sau truyện tích Ðức Chúa Jêsus giáng sanh và sau khi Ngài thăm viếng Giê-ru-sa- lem lúc 12 tuổi, thì Kinh Thánh ít chép về Ma-ri. Theo cách thường giải thích sách Ma-thi-ơ 13:55-56, thì ngoài Ðức Chúa Jêsus ra, bà còn sanh hạ rất ít là 6 con nữa. Theo lời đề nghị của bà, Ðức Chúa Jêsus đã làm phép lạ thứ nhứt tại Ca-na, tức là biến nước thành rượu (Giăng 2:1-11). Về sau, Kinh Thánh chép rằng bà toan rẽ đám đông mà đến gần Ngài (Ma-thi-ơ 12:46; Mác 3:31; Lu-ca 8:19). Trong trường hợp nầy, lời Ðức Chúa Jêsus phán tỏ rõ rằng mối liên lạc gia đình của bà với Ngài chẳng ban cho bà một ưu thế thiêng liêng đặc biệt nào cả. Bà có mặt lúc Ðức Chúa Jêsus bị đóng đinh trên Thập tự giá, và Ngài đã phó thác bà cho Giăng phụng dưỡng (Giăng 19:25-27). Kinh Thánh không chép Ðức Chúa Jêsus hiện ra với bà sau khi Ngài sống lại, mặc dầu Ngài thật đã hiện ra với Ma-ri Ma-đơ-len. Kinh Thánh chép lần chót về bà Ma-ri ở sách Sứ đồ 1:14, lúc bà hiệp với các môn đồ mà cầu nguyện. Ðó là mọi điều Kinh Thánh đã nói về bà Ma-ri. Nói về các bậc phụ nữ có mặt trong đời sống công khai của Ðức Chúa Jêsus, thì Ma-ri Ma-đơ-len dường như đã đóng vai quan trọng bội phần hơn mẹ của Ðức Chúa Jêsus (Ma-thi-ơ 27:56, 61, 28:1; Mác 15:40, 47, 16:9; Lu-ca 8:2, 24:10; Giăng 19:25; 20:1-18). Xem chú giải ở dưới Lu-ca 8:1-3.

Ma-ri là một bậc phụ nữ trầm tĩnh, hay suy gẫm, sùng đạo, khôn ngoan, được tôn trọng hơn hết; bà là nữ hoàng của các người mẹ, và đã chịu những nỗi lo âu thông thường của kẻ làm mẹ. Chúng ta ngưỡng mộ, tôn trọng bà, và kính mến bà vì bà đã sanh ra Cứu Chúa của chúng ta. Nhưng chúng ta không cầu nguyện bà. Chúng tôi nghĩ rằng người ta thường không tán thành việc Giáo hội Công giáo tôn bà Ma-ri làm thần, nên giới tín đồ không phải Công giáo chẳng tỏ lòng tôn trọng bà một cách thích đáng. Chúng tôi ngờ rằng chính bà Ma-ri ở Thiên đàng, dầu tự hào đời đời vì đã được làm mẹ của Cứu Chúa, song cũng không khỏi sững sốt, buồn rầu vì người ta đã tạc hình tượng bà lên mà thờ lạy.

Ai là "anh em" và "chị em" của Ðức Chúa Jêsus, đã ghi chép ở Ma-thi-ơ 13:55-56 và Mác 6:3? Có phải là con cái do Ma-ri sanh ra chăng? Hay là con cái đời vợ trước của Giô-sép? Hay là anh chị em họ? Ý nghĩa rõ ràng, đơn sơ và tự nhiên của những khúc sách nầy là họ chính là con cái do Ma-ri sanh ra. Ðó là ý kiến thông thường của các nhà bình luận Kinh Thánh trong Hội Thánh Tin Lành. Vả, ý kiến nầy được chứng minh bởi lời chép ở Lu-ca 2:7 rằng Ma-ri "sanh con Trai ÐẦU LÒNG." Tại sao lại gọi là đầu lòng, nếu chẳng có con cái nào khác?

Chúng tôi ngờ rằng nếu không phải muốn tôn sự độc thân làm một hình thức sanh hoạt thánh khiết hơn, thì người ta đã chẳng gán cho những khúc sách nầy một ý nghĩa khác. Giáo lý về Ma-ri "đồng trinh trọn đời" (nghĩa là bà cứ ở đồng trinh mãi, và không sanh con cái nào khác) đã xuất hiện lần đầu tiên nhằm thế kỷ thứ hai, trong những ngụ ngôn và tưởng tượng của các sách vở liên quan đến những ý niệm giáo lý rằng ở độc thân thì thánh khiết hơn. Sau đó người ta lại đặt truyện "thân thể không tì vít và quí báu của bà" được biến hóa mà cất lên trời. Sự thờ phượng "Nữ đồng trinh thánh" càng ngày càng thêm, cho đến năm 1854, thì Giáo hoàng Pie IX thi hành đặc quyền cho phép Giáo hoàng tạo ra những thực sự lịch sử, bèn ra sắc lịnh tuyên bố Ma-ri "được hoài thai tinh khiết" (nghĩa là bà vô tội, sanh ra và được giữ gìn "khỏi mọi tì tích của nguyên tội").

Về sự "đồng trinh trọn đời" của Ma-ri, thì ta sẽ nói chi về Ma-thi-ơ 1:25? Lời chép rằng Giô-sép "không hề ăn ở với bà cho đến khi người sanh một trai," há chẳng gồm ý rõ ràng, không sao lầm lẫn được, rằng ông thật đã "ăn ở với" bà, như chồng và vợ, sau khi Ðức Chúa Jêsus sanh ra, sao? Lại nữa, câu: "Chưa ăn ở cùng nhau" (Ma-thi-ơ 1:18) há chẳng gồm ý rằng về sau họ thật có "ăn ở cùng nhau," sao? Hơn nữa, phải chăng có lý rằng Giô-sép và Ma-ri chỉ giả làm vợ chồng, và thật ra cuộc hôn nhân bề ngoài của họ chỉ là công khai giả mạo? Họ cố che giấu sự đồng trinh ở dưới đời sống gia đình chăng? Ta có thể nghĩ rằng Ðức Chúa Trời đã dự phần vào sự dối gạt và giả hình dường ấy, chăng? Hơn nữa, sự đồng trinh có phải là thánh khiết hơn địa vị làm mẹ chăng?

Còn thuyết "anh em họ" và "anh em nuôi," chỉ là phỏng đoán, không căn cứ trên ngữ học hoặc Kinh Thánh chi hết. Thuyết nầy chỉ đặt ra để binh vực giáo lý Ma-ri "đồng trinh trọn đời," và dùng giáo lý nầy làm bối cảnh mà tôn giới thầy cả tự nhận là độc thân lên trên thường nhân.

 

Ma-thi-ơ 2:1-2 -- Các bác sĩ tới thăm

Việc nầy chắc đã xảy ra giữa khoảng Ðức Chúa Jêsus được 40 ngày và lên 2 tuổi (Ma-thi-ơ 2:16; Lu-ca 2:23, 39). Hai tuổi nầy dường như chỉ tỏ lúc ngôi sao hiện ra lần đầu tiên (câu 7) để thúc đẩy họ lên đường trong một hành trình kéo dài mấy tháng, chớ không phải là định đúng lúc hài nhi sanh ra. Nhưng Hê-rốt muốn chắc chắn, nên đã lấy thời hạn xa nhứt. Ít ra Hài nhi cũng không còn ở trong máng cỏ nữa, như các hình vẽ thường mô tả, nhưng Ngài đã ở trong "nhà" (câu 11). Xem ở Lu-ca 2:6-7.

Ba bác sĩ nầy đến từ Ba-by-lôn, hoặc từ xứ xa hơn, là nơi phát tích của loài người, tức là quê hương của Áp-ra-ham, nơi dân Do-thái bị lưu đày và nhiều người Do-thái còn cư ngụ. Ba bác sĩ nầy thuộc về hạng tri thức, và là cố vấn của vua chúa. Có lẽ họ biết Kinh Thánh của dân Do-thái và biết rằng dân ấy trông đợi một Ðấng Mê-si ngự đến làm Vua. Ba-by-lôn là nơi Ða-ni-ên đã ở, và chắc họ có biết lời tiên tri của ông về 70 tuần lễ, cùng lời tiên tri của Ba-la-am về "một Ngôi Sao hiện ra từ Gia-cốp" (Dân số ký 24:17). Họ là những người có địa vị cao, vì được phép vào triều kiến Hê-rốt. Người ta thường nói là có "ba bác sĩ," những Kinh Thánh không nói rõ là có bao nhiêu. Có lẽ có nhiều hơn, hoặc ít ra họ cũng có bọn tùy tòng tới vài trăm người, vì một nhóm ít ỏi du hành hàng ngàn dặm qua những đồng vắng hoang vu, giặc cướp nhan nhản, thì không được an ninh. Họ tới Giê-ru-sa-lem, tỏ ra có việc quan trọng, đủ làm cho cả thành xôn xao.

Sự thăm viếng của ba bác sĩ nhằm mục đích tượng trưng sự sùng kính của giới trí thức và của những xứ xa đối với VUA mới sanh ra, cùng kêu gọi dân Giê-ru-sa-lem chú ý rằng Ngài đã ngự đến. Nhưng cũng còn nhằm một mục đích nữa mà chính các bác sĩ không biết, ấy là cung cấp tiền bạc cho Hài nhi trốn qua Ai-cập. Cha mẹ vốn nghèo, và nếu chẳng nhờ số vàng của các bác sĩ dâng cho, thì gia đình Chúa không thể nào trốn thoát tay Hê-rốt.

 

Ngôi sao

Người ta tính rằng Mộc tinh (Jupiter) và Thổ tinh (Saturne) đã giao hội năm 6 T.C.. Nhưng điều nầy hầu như không thể cắt nghĩa tại sao "ngôi sao đi trước mặt họ cho đến chừng ngay trên chỗ Con Trẻ ở mới dừng lại" (câu 9). Có người tưởng có lẽ là một "tân tinh" (nova), tức là một ngôi sao nổ ra và cháy sáng trong một thời gian. Các nhà thiên văn cho chúng ta hay rằng trên Ngân hà, hằng năm có chừng 30 ngôi sao nổ ra như vậy, sáng rực gấp hơn 10.000 lần khi trước, rồi lại trở về mực sáng thường. Nhưng hiện tượng ấy làm thế nào tương ứng với trường hợp này được?

Chắc ngôi sao mà các bác sĩ thấy là một hiện tượng rõ rệt, một ánh sáng siêu nhiên do sự khải thị trực tiếp của Ðức Chúa Trời mà đi trước mặt họ và chỉ vào đúng chỗ. Ðó là sự báo cáo siêu nhiên về một sự giáng sanh siêu nhiên. Các bác sĩ là những nhà thiên văn và chiêm tinh. Ðức Chúa Trời dùng cái gì ở trong phạm vi tư tưởng của họ để dẫn đưa họ đến Ðấng họ đang tìm kiếm. Có lẽ khi họ trở về xứ sở và thuật lại điều mình được thấy, thì đã dọn đường để mấy chục năm sau, các Sứ đồ đến rao giảng Tin Lành, vì một vài vị đã đi tới Ba-by-lôn.

 

Ðoạn 2:13-15 -- Trốn qua Ai-cập

Ngay đến biến cố nầy cũng không tránh khỏi con mắt sáng suốt, không hề lầm lẫn của Ðức Chúa Trời trong hàng dài những lời tiên tri về Ðấng Mê-si (câu 15; Ô-sê 11:1). Vị thiên sứ (câu 13) truyền lịnh cho họ trốn qua Ai-cập có lẽ là Gáp-ri-ên mà Ðức Chúa Trời đã giao cho nhiệm vụ chăm nom Hài nhi (xem ở dưới Lu-ca 2:8-20).

Họ ở Ai-cập không lâu, có lẽ chỉ 1 hoặc 2 năm thôi, vì chẳng bao lâu Hê-rốt đã chết, và họ có thể trở về bình an vô sự. Xem niên biểu thời thơ ấu của Ðức Chúa Jêsus ở dưới Lu-ca 2:39.

Không chỉ rõ tại Ai-cập, Giô-sép, Ma-ri và Hài nhi đã ở nơi nào. Theo truyền khẩu, thì gia đình Giô-sép ngụ tại thành Ôn, cũng gọi là Héliopolis. Ðây cũng là nơi mà một Giô-sép khác đã cai trị nước Ai-cập từ bao nhiêu thế kỷ trước (Sáng-thế Ký 41:45). Một tiêm bi dựng từ thời Áp-ra-ham, vẫn còn đó và đánh dấu vùng di tích.

 

Ðoạn 2:16-18 -- Tàn sát con trẻ

Khá kỳ lạ thay! Một người tin rằng Ðấng Christ ngự đến (câu 4) mà lại có thể tự kiêu và ngu dại đến nỗi tưởng ngăn trở được sự ngự đến của Ngài!

 

Hê rốt

Nhà Hê-rốt là một triều vua gốc ở xứ Ê-đôm, dưới quyền đô hộ của người La-mã, họ đã được cai trị xứ Giu-đê trước khi Ðấng Christ xuất hiện ít lâu. Hê-rốt đại vương (37-3 T.C.) đã đoạt được và giữ lấy ngôi bởi những hành động tàn bạo khôn tả xiết, thậm chí ông đã giết cả vợ và hai con trai. Ông là người hung ác, quỉ quyệt và vô tình. Chính ông đã giết những con trẻ ở Bết-lê-hem vì toan hạ sát Ðấng Christ.

Chừng 33 năm sau, con trai ông, là Hê-rốt Antipas, giết Giăng Báp-tít (Mác 6:14-29), và chế nhạo Ðấng Christ (Lu-ca 23:7-12).

14 năm sau nữa, cháu nội ông, là Hê-rốt [1]c-ríp-ba I giết Sứ đồ Gia-cơ (Công-vụ các Sứ-đồ 12:1-12).

16 năm nữa, chắt nội ông, là vua Hê-rốt [1]c-ríp-ba II, đã xét xử Phao-lô (Công-vụ các Sứ-đồ 25:13 đến 26:32).

 

Ðoạn 2:19-21 -- Từ Ai-cập hồi hương

Việc nầy cũng do một thiên sứ truyền bảo. Do câu 22, dường như Giô-sép định trở về Bết-lê-hem. Có lẽ ông toan định như vậy vì muốn chọn Bết-lê-hem, quê hương của tổ phụ Ða-vít, làm nơi cư trú vĩnh viễn và nơi thích hợp để dưỡng dục Ðấng Mê-si còn thơ ấu. Nhưng Ðức Chúa Trời có kế hoạch khác, nên đã bảo họ trở về xứ Ga-li-lê.

 

Các Danh hiệu của Ðức Chúa Jêsus

Cựu Ước đã dự ngôn sự ngự đến của một Vua oai hùng, lạ lùng, thuộc trong gia tộc Ða-vít, và Ngài sẽ cai trị cùng ban phước cho cả thế giới. Lâu lắm trước khi xuất hiện, Vua ấy đã được đặt tên là "Ðấng Mê-si" (tiếng Hê-bơ-rơ), hoặc "Ðấng CHRIST" (tiếng Hi-lạp). Hai chữ nầy cùng có nghĩa là: "Chịu xức dầu." Vậy, Ngài là Ðấng mà Ðức Chúa Trời xức dầu cho để làm giữa thế giới công việc mà các tiên tri đã nói đến. "JÊSUS" là Danh hiệu riêng của Ngài, còn "Ðấng Mê-si" hoặc "Ðấng Christ" là Danh hiệu tỏ ra chức vụ mà Ngài đã ngự đến để gánh vác.

 

Ðoạn 2:22-23 -- Trở về Na-xa-rét

Ma-thi-ơ không chép rằng Na-xa-rét vốn là nơi cư ngụ của Giô-sép và Ma-ri. Chúng ta nhờ Lu-ca mới biết điều đó.

Ðiều mà Ma-thi-ơ đặc biệt nêu lên, ấy là sự trở về Na-xa-rét đã làm ứng nghiệm một lời tiên tri.

Lời tiên tri mà Ma-thi-ơ trưng dẫn ở đây thì người ta cho là Ê-sai 11:1, tại đó Ðấng Mê-si được gọi là "Nhánh," (cũng xem Giê-rê-mi 23:5 và Xa-cha-ri 3:8). Trong tiếng Hê-bơ-rơ, chữ "Nhánh" gần giống như chữ "Na-xa-rét." Ðây là một lời song quan (jeu de mots). Ðức Chúa Jêsus "là người Na-xa-rét" theo hai ý nghĩa.

Vì Ma-thi-ơ hay trưng dẫn Cựu Ước, tỏ ra ông có khuynh hướng "ráp" các biến cố và đặc điểm của đời sống Ðấng Christ vào các lời tiên tri, nên đây là chỗ rất tốt cho chúng ta liệt kê những lời tiên tri Cựu Ước được trưng dẫn trong 4 sách Tin Lành , nhứt là trong sách Tin Lành Ma-thi-ơ, có liên quan đến Ðấng Christ. Phần nhiều lời tiên tri ấy hoàn toàn rõ ràng chỉ về Ðấng Mê-si. Có một vài lời tiên tri mà chúng ta không thể giải thích như vậy, trừ ra nó đã được các tác giả (do Chúa soi dẫn) trưng dẫn theo ý nghĩa như vậy. Tuy nhiên, đối với chúng ta, thì ta hoàn toàn hài lòng về cách Tân Ước giải thích các đoạn Cựu Ước. Ấy vì lời giải thích Tân Ước đã ghi ý nghĩa Ðức Chúa Trời đã định dành cho các đoạn Cựu Ước.

 

Những Lời Tiên Tri Cựu Ước Về Ðấng CHRIST được
Trưng Dẫn Trong Bốn Sách Tin Lành

Rằng Ngài sẽ thuộc về gia tộc Ða-vít (Ma-thi-ơ 22:24; Mác 12:36; Lu-ca 1:69, 70; 20:42-44; Giăng 7:42; II Sa-mu-ên  7:12-16; Thi Thiên 89:3, 4; 110:1; 132:11; Ê-sai 9:6-7; 11:1).

Rằng Ngài sẽ sanh ra bởi nữ đồng trinh (Ma-thi-ơ 1:23; Ê-sai 7:14).

Rằng Ngài sẽ sanh tại Bết-lê-hem (Ma-thi-ơ 2:6; Giăng 7:42; Mi-chê 5:2).

Rằng Ngài sẽ kiều ngụ tại Ai-cập (Ma-thi-ơ 2:15; Ô-sê 11:1).

Rằng Ngài sẽ ở xứ Ga-li-lê (Ma-thi-ơ 4:15; Ê-sai 9:1-2).

Rằng Ngài sẽ ở thành Na-xa-rét (Ma-thi-ơ 2:23; Ê-sai 11:1).

Rằng sự ngự đến của Ngài sẽ được báo cáo bởi một sứ giả giống như Ê-li (Ma-thi-ơ 3:3; 11:10-14; Mác 1:2-3; Lu-ca 3:4-6; 7:27; Giăng 1:23; Ê-sai 40:3-5; Ma-la-chi 3:1; 4:5).

Rằng sự ngự đến của Ngài sẽ gây cho con trẻ thành Bết-lê-hem bị tàn sát (Ma-thi-ơ 2:18; Sáng-thế Ký 35:19-20; 48:7; Giê-rê-mi 31:15).

Rằng Ngài sẽ rao một năm hân hỉ cho thế giới (Lu-ca 4:18-19; Ê-sai 58:6; 61:1).

Rằng Ngài sẽ thi hành sứ mạng đối với các dân ngoại (Ma-thi-ơ 12:18-21; Ê-sai 42:1-4).

Rằng Ngài sẽ thi hành chức vụ chữa bịnh (Ma-thi-ơ 8:17; Ê-sai 53:4).

Rằng Ngài sẽ dạy dỗ bằng thí dụ (Ma-thi-ơ 13:14, 15, 35; Ê-sai 6:9-10; Thi Thiên 78:2).

Rằng những kẻ cầm quyền không tin Ngài, ghen ghét và chối bỏ Ngài (Ma-thi-ơ 15:8, 9; 21:42; Mác 7:6, 7; 12:10, 11; Lu-ca 20:17; Giăng 12:38, 40; 15:25; Thi Thiên 69:4; 118:22; Ê-sai 6:10; 29:13; 53:1)

Rằng Ngài sẽ ngự vào thành Giê-ru-sa-lem một cách khải hoàn (Ma-thi-ơ 21:5; Giăng 12:13-15; Ê-sai 62:11; Xa-cha-ri 9:9; Thi Thiên 118:26).

Rằng Ngài sẽ như một Người Chăn Chiên bị đánh (Ma-thi-ơ 26:31; Mác 14:27; Xa- cha-ri 13:7).

Rằng Ngài sẽ bị một người bạn phản nộp vì 30 miếng bạc (Ma-thi-ơ 27:9, 10; Giăng 13:18; 17:12; Xa-cha-ri 11:12, 13; Thi Thiên 41:9).

Rằng Ngài sẽ chết chung với bọn ác nhân (Lu-ca 22:37; Ê-sai 53:9, 12).

Rằng Ngài sẽ được người giàu an táng (Ê-sai 53:9; Ma-thi-ơ 27:57-60). Lời tiên tri nầy không được trưng dẫn trong các sách Tin Lành.

Rằng người ta sẽ cho Ngài uống dấm và mật đắng (Ma-thi-ơ 27:34; Giăng 19:29; Thi Thiên 69:21).

Rằng chúng sẽ bắt thăm chia áo xống Ngài (Giăng 19:24; Thi Thiên 22:18).

Cả lời Ngài phán khi hấp hối cũng được dự ngôn (Ma-thi-ơ 27:46; Mác 15:34; Lu-ca 23:46; Thi Thiên 22:1; 31:5).

Rằng không một cái xương nào của Ngài sẽ bị gãy (Giăng 19:36; Xuất Ê-díp-tô Ký 12:46; Dân số ký 9:12; Thi Thiên 34:20).

Rằng hông Ngài sẽ bị đâm lủng (Giăng 19:37; Xa-cha-ri 12:10; Thi Thiên 22:16).

Rằng Ngài sẽ sống lại nhằm ngày thứ ba (Ma-thi-ơ 12:40; Lu-ca 24:46). Không trưng dẫn một câu đặc biệt nào về vấn đề nầy. Sách Công vụ các sứ đồ 2:25-32 và 13:33-35 trưng dẫn Thi Thiên 16:10-11 để chứng minh sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết. Ðức Chúa Jêsus phán rằng có lời chép Ngài sẽ sống lại "ngày thứ ba" (Lu-ca 24:46). Chắc Ngài đã nhớ đến mấy câu Kinh Thánh nầy: Ô-sê 6:2 và Giô-na 1:17. Có lẽ Ngài cũng thấy cảnh tượng Y-sác được thoát khỏi sự chết nhằm ngày thứ ba (Sáng-thế Ký 22:4). Mười Ðiều răn cũng được ban bố ngày thứ ba (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:16).

Rằng theo sau sự chối bỏ Ngài, thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị hủy phá và có cơn Ðại nạn (Ma-thi-ơ 24:15; Mác 13:14; Lu-ca 21:20; Ða-ni-ên 9:27; 11:31; 12:1, 11).

Chính Ðức Chúa Jêsus nhìn nhận rằng sự chết của Ngài sẽ làm ứng nghiệm Kinh Thánh (Ma-thi-ơ 26:54, 56).

Ðây, một sự kiện lạ lùng: Cả truyện tích về đời sống của Ðức Chúa Jêsus, nào các đặc điểm chính, nào các biến cố, nào các việc ngẫu nhiên kèm theo, thậm chí phần nhiều chi tiết nhỏ nhặt nhứt, đều đã được dự ngôn rõ ràng trong Cựu Ước! Ðó há chẳng phải chứng cớ hiển nhiên rằng có một TÂM TRÍ thực tại và hoạt động, vượt quá tâm trí loài người, đến nỗi làm cho chúng ta phải kinh sợ, ngạc nhiên và hạ mình xuống, sao?

 

Ðoạn 3:1-12 -- Sự giảng dạy của Giăng Báp-tít

Xem thêm ở Lu-ca 3:1-12. Ma-thi-ơ đi từ sự dời khỏi Ai-cập mà hồi hương thẳng đến sự giảng dạy của Giăng Báp-tít, bỏ qua một thời gian gần 30 năm.

 

Ðoạn 3:13-17 -- Ðức Chúa Jêsus chịu lễ báp-têm

Việc nầy cũng có chép ở Ma-thi-ơ 1:9-11 và Lu-ca 3:21-22. Trong cả ba đoạn tường thuật và ở Giăng 1:31-33, có những đặc điểm, là Ðức Thánh Linh giáng xuống và tiếng phán từ trên trời. Theo Giăng 1:31-33, thì dường như Giăng báp-tít không biết Ngài. Nhưng Ma-thi-ơ 3:14 gồm ý rằng ông thật có biết Ngài. Chắc hẳn lúc còn thiếu niên, Ðức Chúa Jêsus và Giăng Báp-tít đã quen biết nhau, vì hai gia đình có bà con (Lu-ca 1:36), và hai bà mẹ đã ở cùng nhau 3 tháng ngay trước khi Ðức Chúa Jêsus và Giăng Báp-tít sanh ra (Lu-ca 1:39, 56). Dường như chắc chắn rằng hai Thiếu niên đã được cha mẹ nói cho biết lời thiên sứ báo cáo liên quan đến sứ mạng của mình. Nhưng từ lúc Giăng Báp-tít rút lui để làm một người khổ tu trong đồng vắng (Lu-ca 1:80), thì có lẽ ông không còn thấy Ðức Chúa Jêsus cho đến ngày Ngài chịu lễ báp-têm. Lẽ tự nhiên, ông không nhận biết Người mà mình đã thấy lúc còn thiếu niên, cho đến khi Ðức Chúa Trời chỉ Ngài ra. Bấy giờ, do chính thiên đàng xác nhận, Ðức Chúa Jêsus được công khai xức dầu với tư cách Con Ðức Chúa Trời, Ðấng Mê-si của nước Do-thái và Cứu Chúa của thế gian.

 

Nơi Ðức Chúa Jêsus chịu lễ báp-têm

Nơi Ðức Chúa Trời đã lựa chọn để giới thiệu Ðấng Mê-si với dân tộc Do-thái chính là hạ lưu sông Giô-đanh, tại chỗ hoặc gần chỗ nước rẽ ra cho Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên đi qua để vào xứ Ca-na-an. Giăng Báp-tít đã ở đây và bắt đầu công việc khơi lòng trông đợi của nhân dân. Chẳng bao lâu, mọi mắt chuyên chú vào ông và ai nấy tự hỏi chính ông có phải là Ðấng Mê-si chăng? Bấy giờ dựa vào một sự phát hiện từ Thiên đàng, ông bèn tuyên bố Ðức Chúa Jêsus là Ðấng Mê-si. Chẳng bao lâu, tại chính miền nầy, phần đầu chức vụ của Ðức Chúa Jêsus đã tiếp theo chức vụ của Giăng Báp-tít. Cũng tại đây, Ðức Chúa Jêsus đã thi hành phần chót của chức vụ. Biết bao kỷ niệm sâu xa dồn lại ở đây! Ngay phía Ðông, ở bìa thung lũng Giô-đanh, có những ngọn núi Nê-bô cao ngất, tại đó Môi-se được xem thấy Ðất Hứa, và cũng tại đó, Ðức Chúa Trời đã an táng ông. Cũng tại đó, khoảng giữa sông Giô-đanh và núi Nê-bô, các xe thiên thượng đã chở Ê-li đi họp mặt với Môi-se trong nơi vinh hiển. Cách 5 dặm về phía Tây, ở bìa thung lũng, là thành Giê-ri-cô mà chiến lũy đã đổ xuống khi tiếng kèn của Giô-suê vang dậy. Ngay trên Giê-ri-cô, chỗ khe Kê-rít chảy mau, các chim quạ đã nuôi sống Ê-li. Xa hơn chút nữa, trên chót dãy núi, là Bê-tên, tại đó, Áp-ra-ham đã lập một bàn thờ cho Ðức Giê-hô-va, và cũng tại đó, Gia-cốp đã thấy cái thang thiên thượng có các thiên sứ lên, xuống (Ðức Chúa Jêsus đã nhắc đến truyện nầy khi trò chuyện với Na-tha-na-ên, ngay sau khi bị ma quỉ cám dỗ ở vùng lân cận ấy). Gần đó, về phía Nam, cũng trên dãy núi ấy, là Giê-ru-sa-lem, Thành Thánh, thành của Mên-chi-xê-đéc và Ða-vít, thủ đô của Ðức Chúa Trời trong khi Ngài cố gắng cứu chuộc loài người. Ở phía Nam, bên kia Biển Chết, là đồng bằng, tại đó có di tích của Sô-đôm và Gô-mô-rơ.

Bản đồ số 45

Ðoạn 4:1-10 -- 40 Ngày cám dỗ

Việc nầy cũng được chép ở Lu-ca 4:1-13 và chép rất vắn tắt ở Mác 1:12-13. Ðức Thánh Linh, Sa-tan (xem lời chú giải ở dưới Lu-ca 4:1-13) và thiên sứ (xem lời chú giải ở dưới Ma-thi-ơ 4:11) đã dự phần trong sự Ðức Chúa Jêsus bị cám dỗ. Ðức Thánh Linh dắt dẫn Ngài và thiên sứ giúp đỡ Ngài đang khi Sa-tan nhiều lần toan kéo Ngài khỏi sứ mạng cứu chuộc loài người. Cả vũ trụ chú ý. Số phận của muôn loài thọ tạo sẽ được định đoạt. Nếu Ðức Chúa Jêsus chịu nổi sự thử thách đầu tiên, thì đó là điềm Ngài sẽ thắng trận cuối cùng.

Chúng ta tự hỏi tại sao Ðức Chúa Jêsus bị cám dỗ ngay sau khi chịu lễ báp-têm? Sự Ðức Thánh Linh giáng xuống trên Ngài lúc đó có thể gồm hai điều mới mẻ trong sự từng trải của Ðức Chúa Jêsus với tư cách một Người: Một là quyền năng để làm phép lạ không hạn chế; hai là hoàn toàn khôi phục sự tri thức mà Ngài có từ trước khi thành nhục thể.

Trong cõi đời đời, Ðức Chúa Jêsus đã biết rằng Ngài đến thế gian để làm Chiên Con của Ðức Chúa Trời, chịu đau thương vì tội lỗi loài người. Nhưng Ngài ngự đến như một Hài nhi. Phải chăng chúng ta sẽ giả định rằng khi còn là Hài nhi, Ðức Chúa Jêsus cũng biết mọi điều mà Ngài đã biết trước khi chưa chịu lấy những sự hạn chế của thân thể loài người? Há chẳng tự nhiên hơn mà suy nghĩ rằng sự hiểu biết của Ngài trước khi thành nhục thể đã lần lần đến cùng Ngài theo mức Ngài lớn lên và được giáo dục như loài người? Lẽ tự nhiên, mẹ Ngài đã thuật cho Ngài biết trường hợp Ngài sanh ra. Ngài biết mình là Con Ðức Chúa Trời và là Ðấng Mê-si. Chắc hẳn Ngài và mẹ Ngài thường trò chuyện về kế hoạch và phương thức do đó Ngài sẽ làm công việc với tư cách Ðấng Mê-si của thế giới. Nhưng khi Ðức Thánh Linh giáng trên Ngài "không chừng mực" (Giăng 3:34) lúc Ngài chịu lễ báp-têm, thì lần thứ nhứt theo tư cách một Người, Ngài được biết đầy đủ, rõ ràng một vài điều mà Ngài đã biết trước khi thành Người. Trong số những điều ấy, có Thập Tự Giá, là con đường do đó Ngài làm trọn sứ mạng. Thập tự giá làm cho Ngài kinh ngạc, khiến Ngài không muốn ăn nữa, đưa Ngài đi xa những chỗ đông người; và suốt 40 ngày, Ngài ngạc nhiên trước Thập tự giá.

Tánh chất sự cám dỗ mà Ngài đã chịu là gì? Có lẽ nó gồm những sự cám dỗ thông thường của loài người khi họ tranh đấu lấy bánh ăn, và ham muốn danh tiếng, quyền thế. Nhưng còn hơn nữa. Ðức Chúa Jêsus cao cả quá, đến nỗi ta không thể nghĩ rằng những cớ tích dường ấy có thể được Ngài coi trọng. Do các tiền tích và bối cảnh của Ngài, chúng ta phải tin rằng Ngài đã tự tạo một ước vọng thiết tha cứu chuộc thế giới. Ngài biết đó là sứ mạng của Ngài. Vấn đề nêu lên là: Làm trọn sứ mạng ấy thể nào? Bởi dùng quyền phép lạ lùng vừa mới ban cho mình -- quyền phép mà không một người nào trước kia từng biết, -- để ban bánh ăn cho loài người mà không cần họ phải làm việc, và để thắng những sức mạnh thông thường của cõi thiên nhiên, Ngài có thể tự tôn lên làm Bá chủ thế giới và lấy Cương Quyền bắt người ta làm theo ý chỉ Ngài. Ðó là sự xui giục của Sa-tan. Nhưng sứ mạng của Ðức Chúa Jêsus không phải là bắt loài người vâng phục, mà là thay đổi lòng họ.

Bổn chất sự cám dỗ mà Ðức Chúa Jêsus phải chịu ấy là đạt tới mục đích bởi những phương pháp trần gian, chớ không bởi sự thương khó; là tạo ra kết quả thiêng liêng bởi phương thức trần gian. Ðiều Ðức Chúa Jêsus không chịu làm, thì trải qua các đời, Hội Thánh đã làm, và ngày nay Hội Thánh còn làm nhiều lắm: Ấy là buông theo sự ham muốn quyền thế trần tục.

Ma quỉ thật có mặt ở đó chăng? Hay đó chỉ là một cuộc giao tranh trong tâm hồn? Kinh Thánh không cho ta biết ma quỉ hiện đến cùng Ðức Chúa Jêsus dưới hình thức nào. Nhưng Ðức Chúa Jêsus chắc đã nhận biết rằng các sự xui giục đó đến từ Sa-tan; nó có ở đó, quyết định và hết sức hăng hái cản trở sứ mạng của Ngài (xem bài chú giải về Sa-tan ở dưới Lu-ca 4:1-13).

Người ta cho rằng chỗ Ðức Chúa Jêsus bị cám dỗ ở trên đỉnh trống trải và hoang vu của miền núi nhìn xuống Giê-ri-cô, bên trên khe Kê-rít, là nơi chim quạ đã nuôi sống Ê-li. Có lẽ xa xa trông thấy núi Gô-gô-tha, là nơi Ngài phải trải qua cơn thử thách sau cùng. Xem bản đồ số 45, ở dưới Ma-thi-ơ 3:13-17.

Ðức Chúa Jêsus đã kiêng ăn 40 ngày (câu 2). Môi-se cũng đã kiêng ăn 40 ngày trên núi Si-na-i, trong dịp ban bố Mười Ðiều răn (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:28). Ê-li cũng đã kiêng ăn 40 ngày trên đường đi đến núi ấy (I Các Vua 19:8). Môi-se đại diện cho Luật pháp, Ê-li đại diện các Tiên tri, còn Ðức Chúa Jêsus là Ðấng Mê-si mà Luật pháp và các Tiên tri đã đề cao. Ðây là ba Vị Ðại diện cao trọng của sự khải thị Ðức Chúa Trời cho loài người. Từ đỉnh núi, là nơi Ðức Chúa Jêsus kiêng ăn, nhìn về phía Ðông ở bên kia sông Giô-đanh, Ngài có thể thấy dãy núi Nê-bô, là nơi Môi-se và Ê-li đã được cất lên tới Ðức Chúa Trời từ bao nhiêu thế kỷ trước.

Chừng 3 năm sau, ba Vị đã gặp nhau giữa cảnh trạng vinh quang thiên thượng của Sự Hóa hình trên núi Hô-rếp (bản đồ số 48 -- xem ở dưới Mác 10), cách 100 dặm về phía Bắc. Từ núi Cám dỗ, ta có thể thấy rõ đỉnh núi Hô-rếp có tuyết phủ kín. Ba Vị là bạn cùng chịu thương khó, và sau là bạn cùng được vinh hiển.

Sau cơn cám dỗ, Ðức Chúa Jêsus quay về sông Giô-đanh, là nơi Giăng Báp-tít đang làm lễ báp-têm cho dân chúng (xem lời chú giải ở Giăng 1:19-34).