Sáng-Thế Ký

 

Khởi đầu của thế giới, loài người và dân tộc Hê-bơ-rơ. Chép về công cuộc sáng tạo, nạn nước lụt, Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, Giô-sép.

Tác Giả Của Sách Sáng-Thế Ký

Truyền thuyết lâu đời của dân Hê-bơ-rơ và của tín đồ Ðấng Christ là: Do Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dắt dẫn, Môi-se đã dựa vào các tài liệu cổ sẵn có đương thời mình mà chép ra sách Sáng thế ký. Sách nầy chấm dứt chừng 300 năm trước thời Môi-se. Ông chỉ có thể được sự tri thức đó hoặc bởi Ðức Chúa Trời trực tiếp khải thị, hoặc nhờ những tài liệu lịch sử của tổ tiên truyền lại cho.

Mở đầu bằng "Bài ca Sáng Tạo," rồi có 10 "Sách Dòng dõi(1) " họp thành "cái cốt" của sách Sáng thế ký. Dường như các "sách dòng dõi" nầy hoặc do Môi-se phối hợp cụ thể, rồi thêm vào các đoạn và các lời giải thích tùy theo ông được Ðức Chúa Trời dắt dẫn, hoặc chính ông đã dựa vào các tài liệu lịch sử khác mà mình sẵn có để biên trứ dưới sự dẫn dắt của Ðức Chúa Trời. Mười một tài liệu ấy như sau đây:

"Bài ca Sáng Tạo" (1:1-2:3).

"Gốc tích(2) trời và đất" (2:4-4:26).

"Sách chép dòng dõi của A-đam" (5:1-6:8).

"Dòng dõi của Nô-ê" (6:9-9:28).

"Dòng dõi của các con trai Nô-ê" (10:1-11:9).

"Dòng dõi của Sem" (11:10-26).

"Dòng dõi của Tha-rê" (11:27-25:11).

"Dòng dõi của Ích-ma-ên" (25:12-18).

"Dòng dõi của Y-sác" (25:19-35:29).

"Dòng dõi của Ê-sau" (36:1-43).

"Dòng dõi của Gia-cốp" (37:2-50:26).

Mười một tài liệu thượng cổ nầy vốn là gia phổ của dòng dõi được Ðức Chúa Trời lựa chọn và của những gia tộc liên hệ. Chúng hợp thành sách Sáng thế ký và gồm 2000 năm đầu tiên của lịch sử loài người, từ khi dựng nên loài người đến khi tuyển dân của Ðức Chúa Trời kiều ngụ tại Ai-cập.

"Bài ca Sáng Tạo" (1:1-2:3)

Ðây là một bài đầy thi vị, có sự uyển chuyển đều mực và oai nghiêm, mô tả các giai đoạn liên tiếp của sự sáng tạo. Sự sáng tạo nầy được thực hiện trong bảy ngày, là con số hay được nhắc đến trong Kinh Thánh. Trong tất cả văn chương, hoặc thuộc về khoa học, hoặc thuộc về ngành nào khác, không có truyện tích nào tuyệt diệu hơn về căn nguyên muôn vật.

Ai đã viết "Bài ca Sáng Tạo?" Môi-se dùng nó, nhưng chắc nó đã được viết ra từ lâu đời về trước, có lẽ bởi Áp-ra-ham, hoặc Nô-ê, hoặc Hê-nóc, hoặc A-đam. Người ta thường dùng chữ viết từ bao nhiêu đời trước thời Môi-se. Một số "điều răn, qui tắc và luật pháp" (Nê-hê-mi 9:14) đã có đương thời Áp-ra-ham, tức là 600 năm trước thời Môi-se (xem Sáng thế ký 26:5).

Tác giả làm sao biết được việc xảy ra trước khi loài người xuất hiện? Chắc hẳn Ðức Chúa Trời "đã khải thị quá khứ xa vời cho ông cùng một cách như về sau, Ngài bày tỏ tương lai xa vời cho các đấng tiên tri vậy."

Biết đâu Ðức Chúa Trời đã chẳng dạy "bài ca" nầy, hoặc đại ý của nó cho chính A-đam? Có lẽ "bài ca" nầy đã được truyền miệng trong lúc gia đình sum họp, hoặc được hát lên như một nghi lễ trong cuộc thờ phượng thời cổ (thánh ca là phần lớn của các hình thức văn chương thời tối cổ), từ thế hệ nầy đến thế hệ kia, cho đến khi chữ viết được đặt ra. Chính Ðức Chúa Trời canh giữ sự lưu truyền "bài ca" ấy cho đến khi nhờ trí óc phi thường của Môi-se, nó chiếm được địa vị mở đầu Sách của Ðức Chúa Trời ban cho các thời đại.

Nếu Kinh Thánh là Lời Ðức Chúa Trời như chúng ta đã tin, và nếu Ðức Chúa Trời biết từ lúc ban đầu rằng Ngài sẽ dùng Kinh Thánh làm khí cụ chánh yếu trong sự cứu chuộc loài người, thì tại sao lại khó tin rằng cùng một lúc dựng nên họ, Ngài đã ban cho họ mầm giống và nguyên tử của Lời ấy?

 

Ðoạn 1:1 -- Sáng tạo vũ trụ

"Ban đầu" Ðức Chúa Trời dựng nên vũ trụ. Ðó là sự sáng tạo tuyệt đối.

Những điều chép nối tiếp trong "bảy ngày" mô tả nhiều cách nắn hình vật chất đã dựng nên có liên quan đến trái đất, để dự bị mặt đất cho sự dựng nên loài người và làm nơi ở của họ. Theo niên biểu của Kinh Thánh, thì loài người được dựng nên chừng 4000 năm T.C.. Nhưng vũ trụ có thể được dựng nên từ vô số đời về trước, từ quá khứ xa xăm, sâu thẳm vô cùng, từ trước khi có thời gian.

Ðức Chúa Jêsus có mặt ở đó, và đã góp tay dự phần (Giăng 1:1-3; 17:5, 24).

 

Ai tạo nên Ðức Chúa Trời?

Con trẻ nào cũng hỏi câu nầy? Và không ai trả lời được. Có những điều vượt quá trí chúng ta. Chúng ta không thể khái niệm lúc bắt đầu của thời gian, hoặc lúc tận cùng của thời gian, hoặc biên giới của không gian. Vũ trụ đã thực hữu luôn, không hề có lúc ban đầu; hoặc vũ trụ được tạo nên từ cõi không không. Hai điều ấy phải có một, nhưng ta không thể khái niệm điều nầy hoặc điều kia. Ta biết điều nầy: Những sự vật cao tột mà ta nghĩ tới được là: Thân vị, tinh thần, trí khôn. Nó từ đâu mà đến? Vật vô tri có thể dựng nên trí khôn chăng? Bởi ÐỨC TIN, chúng ta nhìn nhận một Quyền phép cao trọng hơn mình, tức là ÐỨC CHÚA TRờI, như là tuyệt điểm của tư tưởng mình, và hy vọng rằng một ngày kia, trong cõi đời sau, ta sẽ hiểu được những lẽ mầu nhiệm của sự thực hữu (hoặc: sự sống).

 

Vũ trụ mà Ðức Chúa Trời đã dựng nên

Các nhà thiên văn học phỏng định rằng Ngân hà mà trái đất và thái dương hệ thống thuộc về đó, có hơn 30 tỷ mặt trời, nhiều cái lớn hơn mặt trời của chúng ta bội phần; vả mặt trời của chúng ta lớn hơn trái đất một triệu rưỡi lần. Ngân hà có hình như một chiếc đồng hồ mỏng, đường kính từ đầu nầy tới đầu kia là 200 ngàn năm ánh sáng; một năm ánh sáng là khoảng đường mà ánh sáng vượt qua trong một năm với tốc độ 186.000 dặm (chừng 300.000 cây số) một giây đồng hồ. Vả, có rất ít là 100.000 nhóm tinh tú giống như Ngân hà, và một vài nhóm cách nhau hàng triệu năm ánh sáng. Và mọi sự nầy có thể chỉ là một chấm nhỏ trong không gian vô biên, vô tận.

 

Ðoạn 1:2 đến 2:3 -- "Bảy ngày."

Chúng ta chẳng biết đây là những ngày có 24 giờ, hay là những thời kỳ dài kế tiếp nhau, hay là các khoảng xen vào giữa những thời kỳ ấy. Chữ "ngày" có nhiều nghĩa khác nhau. Chữ "ngày" ở Sáng thế ký 1:5 dùng để chỉ về sự sáng. Ở 1:8, 13 dường như có nghĩa là một ngày 24 giờ. Ở 1:14, 16 dường như có nghĩa là ban ngày 12 giờ. Ở 2:4 (2) dường như gồm cả thời kỳ sáng tạo. Trong những khúc sách như Giô-ên 2:18, Công vụ các sứ đồ 2:20, Giăng 16:23, hai chữ "ngày đó" dường như chỉ về cả kỷ nguyên đạo Ðấng Christ. Trong những khúc sách như II Ti-mô-thê 1:12, dường như chỉ về kỷ nguyên sau lúc Chúa tái lâm. Còn theo Thi Thiên 90:4 và II Phi-e-rơ 3:8, thì "ở trước mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày." Vậy, chúng ta chớ quá độc đoán về kỳ gian của sáu ngày sáng tạo.

Nhưng bất cứ kỳ gian của nó là chừng nào, chúng ta cũng hãy nhớ rằng công việc của mỗi ngày đã thành tựu như là kết quả do mạng lịnh Ðức Chúa Trời. Ðoạn nầy không phải là một bài luận về khoa học, nhưng giống như một bài thơ hoặc một bài ca nhiều hơn. Tuy nhiên, nó ăn hiệp rất lạ lùng với môn sanh vật học và môn động vật học ngày nay.

 

Ngày thứ nhứt (1:2-5)

Sự sáng.-- Sự sáng chắc đã gồm trong "trời đất" mà Ðức Chúa Trời dựng nên lúc "ban đầu." Nhưng mặt địa cầu chắc còn tối tăm, vì vỏ địa cầu đang nguội lần, là một khối hiu quạnh sôi sùng sục và có nước sôi bao phủ, chắc đã bốc lên nhiều lớp sương mù và hơi dày, che khuất hẳn ánh sáng mặt trời. Sự sáng và sự liên tiếp của ngày và đêm đã được thiết lập trên mặt địa cầu khi sự nguội lần đã giảm bớt mật độ của sương mù, đủ cho ánh sáng thấu qua. Tuy nhiên, mãi đến ngày thứ tư, mặt trời mới xuất hiện, mắt xem thấy được.

 

Ngày thứ hai (1:6-8)

Khoảng không.-- gọi là "trời" đây chỉ về bầu không khí, hoặc lớp khí trời, ở giữa trái đất có nước bao phủ và các từng mây bên trên. Có khoảng không nầy là vì nước của trái đất càng nguội hơn; tuy nhiên, mặt trái đất còn nóng đủ để làm ra mây che khuất mặt trời.

 

Ngày thứ ba (1:9-13)

Ðất đai và cây cối.-- Cho tới bây giờ, dường như mặt trái đất đã bị nước phủ kín hết; ấy vì lớp vỏ mỏng mới kết thành luôn luôn nứt vỡ, chắc đã giữ cho mặt trái đất trơn tru, như một trái cầu bằng nước vậy. Nhưng khi lớp vỏ nguội hơn, dày hơn và bất động hoặc ít hoặc nhiều, thì nó bắt đầu cong lên, các hải đảo và địa lục bắt đầu hiện ra. Chưa có mưa, nhưng các lớp sương dày nhuần tưới đất đai mới tạo thành khi ấy tự nó vẫn còn nóng. Khắp nơi có khí hậu nhiệt đới, cây cối chắc đã mọc lên mau chóng và rất nhiều; rồi do biết bao nhiêu lần dìm xuống và cất lên liên tiếp, cây cối ấy biến thành những lớp than mà ta có ngày nay.

 

Ngày thứ tư (1:14-19)

Mặt trời, mặt trăng, ngôi sao.-- Nhưng vì sáng nầy chắc đã được dựng nên lúc "ban đầu." "Ngày thứ nhứt," ánh sáng của chúng chắc đã thấu qua những lớp sương của trái đất (1:3), nhưng chính chúng thì chưa lộ ra. Bây giờ, vì các đám mây bớt mật độ, là kết quả do trái đất càng nguội thêm, nên trên mặt trái đất thấy chúng được. Khi mặt đất không còn nhận chịu sức nóng từ bên trong. Nhưng chỉ còn nhờ mặt trời mà có sức nóng, thì liền có thời tiết. Bấy giờ các cuộc phát triển địa chất chắc đã chậm lại và gần như ngừng hẳn.

 

Ngày thứ năm (1:20-25)

Biển, cá và chim.-- Hãy chú ý sự tấn triển: Ngày thứ nhứt và ngày thứ hai có những vật vô tri giác; ngày thứ ba có sự sống thảo mộc; ngày thứ năm có sự sống động vật.

 

Ngày thứ sáu (1:24-31)

Ðất đai, súc vật và loài người.-- Rốt lại, trái đất đã sẵn sàng làm nơi ở của người; Ðức Chúa Trời bèn làm nên người theo hình ảnh Ngài, và ban cho người quyền cai trị trái đất cùng mọi loài trên đất. Chắc Ðức Chúa Trời đã rất hài lòng về công việc của Ngài, vì Ngài thấy mọi công trình đó "thật rất tốt lành" (1:4, 10, 12, 18, 21, 25, 31). Nhưng chẳng bao lâu bức tranh đã đổi ra ảm đạm. Ðức Chúa Trời chắc đã biết trước sẽ xảy ra như vậy, và chắc đã coi tất cả công trình sáng tạo loài người chỉ như một bước đi tới thế giới vinh hiển sẽ còn từ bức tranh đó lộ ra, theo như có mô tả trong những đoạn chót của sách Khải Huyền.

 

Ngày thứ bảy (2:1-3)

Ðức Chúa Trời yên nghỉ.-- Không phải là yên nghỉ tuyệt đối (Giăng 5:7), nhưng là yên nghỉ sau công trình sáng tạo đặc biệt nầy. Ðó là nền tảng của ngày Sa-bát (Xuất Ê-díp-tô ký 20:11). Xin chú ý rằng ngày thứ bảy không có "buổi chiều." Nó có liên quan thần bí với Thiên đàng (Hê-bơ-rơ 4:4, 9). Con số "bảy" có thể đứng trong cơ cấu vũ trụ, vượt quá sự hiểu biết của loài người bội phần.

 

Bí Chú Khảo Cổ:  Những truyện tích của xứ Ba-by-lôn về công cuộc sáng tạo

Những năm gần đây, trong đống di tích của các thành Ba-by-lôn, Ni-ni-ve, NipputAshur, người ta đã tìm thấy nhiều bản ca về công cuộc sáng tạo, dưới nhiều hình thức, ghi trên các tấm bảng lưu hành từ trước thời Áp-ra-ham, giống hệt như "Bài ca Sáng Tạo" trong sách Sáng thế ký.

Có "bảy tấm bảng" (hoặc thời kỳ) về công cuộc sáng tạo: "Ban đầu" có một "vực sâu nguyên thủy," có "những nước hỗn loạn" gọi là "vực." Các thần đã "tạo thành muôn vật," đã làm ra "khoảng không ở trên và khoảng không ở dưới," đã "lập vững các từng trời và trái đất." Ngày thứ tư, các thần đã "đặt những ngôi sao đúng chỗ," đã "làm cho cỏ xanh mọc lên," đã "dựng nên loài thú ngoài đồng, gia súc và mọi vật sống." Ðến ngày thứ sáu, các thần "làm nên người bằng bụi đất; người trở nên loài sống; người và vợ ở chung, kết bạn với nhau; một cái vườn là nơi họ ở, và họ chẳng biết đến y phục." Ngày thứ "bảy" được chỉ định làm "ngày thánh," và "có lịnh phải ngừng mọi công việc."

Những truyện tích sáng tạo của người Ba-by-lôn và người A-si-ri nầy đều thiên về thuyết đa thần quá đáng. Nhưng vì có rất nhiều điểm giống như truyện tích trong sách Sáng thế ký, nên dường như cả hai truyện có cùng một nguồn. Ðiều nầy há chẳng chứng tỏ rằng một vài ý tưởng của sách Sáng thế ký đã in sâu trong trí nhớ của những người thượng cổ ở trên mặt đất, sao? rằng các nhơn chủng, một khi tách khỏi dòng giống lựa chọn của Ðức Chúa Trời và sa xuống vòng thờ lạy hình tượng, vẫn thọ hưởng và lưu truyền di phẩm của một chơn lý mà họ đã đem đồng hóa với nền văn hóa quốc gia của mình, sao? Những truyền thoại đại bại nầy há chẳng làm chứng cho cái thực sự rằng đã có một nguyên bổn từ Ðức Chúa Trời mà ra, sao?

 

Bí Chú Khảo Cổ:  Nhứt thần luận nguyên thủy

Kinh thánh trình bày rằng loài người phát nguyên với lòng tin tưởng Nơi Một Ðức Chúa Trời Duy Nhất, rằng sự thờ lạy hình tượng theo thuyết đa thần về sau mới bành trướng. Ðó là trái hẳn với lý thuyết kim thời rằng ý niệm về một Ðức Chúa Trời duy nhứt đã lần lần phát triển từ bái vật giáo. Mới đây, quan điểm của Kinh Thánh đã được khảo cổ học xác nhận. Tấn sĩ Stephen Langdon, thuộc Ðại học đường Oxford, đã nhận thấy những bi văn tối cổ của xứ Ba-by-lôn nêu lên rằng tôn giáo đầu tiên của loài người là tin nơi một Ðức Chúa Trời duy nhứt, rồi từ dó mới mau lẹ sa xuống chủ nghĩa đa thần và sự thờ lạy hình tượng(1).

Huân tước Flinders Petrie nói rằng tôn giáo nguyên thủy của Ai-cập là tôn giáo độc thần.

Năm 1898, Sayce báo cáo rằng trên ba tấm bảng của Anh quốc Bảo tàng viện, về thời vua Hammurabi, ông đã khám phá được mấy chữ: "Jahwe (Giê-hô-va) là Ðức Chúa Trời."

Mới đây, nhiều nhà nhơn loại học trứ danh đã báo cáo rằng giữa vòng các chủng tộc thượng cổ, đã có sự tín ngưỡng phổ thông nơi Ðức Chúa Trời Cao cả độc nhứt vô nhị(2).

 

"Gốc tích trời và đất" (2:4-4:26)

Mấy đoạn nầy thường khi gọi là "truyện tích thứ hai" về sự sáng tạo. Thoạt đầu có lời nhắc đến tình trạng hiu quạnh của trái đất (2:5, 6), rất ứng hợp với phần đầu "ngày thứ ba" của "truyện tích thứ nhứt" (1:9, 10); rồi tới mấy chi tiết mà truyện tích thứ nhứt bỏ sót; đoạn, bắt đầu kể sự sa ngã của loài người. Truyện tích nầy có tánh chất bổ túc, chớ không mâu thuẫn. Những chi tiết phụ thêm thì chẳng phải là mâu thuẫn đâu.

Ai là tác giả nguyên thủy của tài liệu nầy? Nó chuyển truyện tích xuống tới thế hệ thứ 6 của dòng dõi Ca-in (4:17-22), và kết thúc trong lúc A-đam còn sống (ông sống đến tận thế hệ thứ 8 của dòng dõi Sết -- 5:4-25). Như vậy, mọi biến cố trong tài liệu nầy đã xảy ra trong đời A-đam. Nếu chữ viết chưa đặt ra khi A-đam còn sống, thì ông há chẳng có thể thuật đi thuật lại mọi sự nầy trong chốn gia đình, đến nỗi ít ra đại ý của nó in hình trong trí óc người ta cho tới lúc đặt chữ viết, sao? Môi-se há chẳng có thể ghi chép đại khái truyện tích loài người sa ngã theo chính lời A-đam đã kể, sao?

 

Ðoạn 2:4-17 -- Vườn Ê-đen

Trong đoạn 1, Ðấng Tạo Hóa được xưng là Ðức Chúa Trời (Elohim), tức là thông danh (nom générique) của Ðấng Cao Cả. Ðây lại xưng Ngài là "Giê-hô-va Ðức Chúa Trời" (Jehovah Elohim), tức là biệt danh của Ngài. Ðó là bước thứ nhứt trong phương thức dài dặc của Ðức Chúa Trời tự khải thị.

"Chưa có mưa, song có hơi nước." Ðiều nầy chắc có nghĩa rằng trong một thời gian, trước khi có mưa, trái đất đã được nhuần tưới bằng những lớp sương mù dày dặc, vì lúc ấy mặt địa cầu còn nóng lắm, do đó hơi nước rất đặc, đến nỗi những giọt mưa mát mẻ ở vành ngoài của các đám mây cũng lại biến thành hơi nước trước khi xuống tới mặt đất.

"Giê-hô-va Ðức Chúa Trời lập một cảnh vườn" (câu 8). Về vị trí, xin xem trang 63.

"Cây sự sống" (câu 9; 3:29) có lẽ thật là món ăn để được bất tử, tỏ ra sự bất tử của chúng ta tùy thuộc một cái gì ở bên ngoài ta. Cây nầy lại sẽ dành cho những ai đã giặt áo mình trong Huyết Chiên Con (Khải Huyền 2:7; 22:2, 14).

"Cây biết điều thiện và điều ác" (9, 17) thì "ăn ngon, lại đẹp mắt và quí vì để mở trí khôn" (3:6). Dầu tánh chất của cây nầy thật là gì đi nữa, -- là một cây thật, hay là hình bóng hoặc tượng trưng, -- nhưng ít ra một phần yếu tố của tội lỗi A-đam và Ê-va cũng là điều nầy: Chuyển quyền kiểm soát đời mình từ Ðức Chúa Trời qua chính mình. Ðức Chúa Trời đã phán bảo họ đại khái rằng họ có quyền làm bất cứ điều chi mình muốn. Trừ Ra một điều. Ðó là thử xem họ có vâng lời Ngài hay không? Ðang khi họ tự chế, thì Ðức Chúa Trời là Chủ của họ. Một khi họ bất kể mạng lịnh của Ðức Chúa Trời mà làm điều cấm duy nhứt đó, thì họ tự tôn mình làm chủ mình. Ðó há chẳng phải yếu tố của tội lỗi loài người sao? Tức là tự nhận điều khiển đời mình cho hợp theo ý mình. Từ ban đầu, Ðức Chúa Trời định cho loài người sống đời đời, và điều kiện duy nhứt là phải vâng lời Ngài. Loài người đã thất bại. Bấy giờ bắt đầu phương thức cứu chuộc dài dặc nhưng chậm chạp, bởi một Cứu Chúa, nhờ Ngài mà loài người có thể được lại địa vị đã mất. Sự sống tuyệt đối chỉ có trong sự vâng lời tuyệt đối.

 

Ðoạn 2:18-25 -- Sự dựng nên người nữ

Ðoạn 1:27 đã tuyên bố rằng người được dựng nên có nam, có nữ. Tới đây, cách dựng nên người nữ được kể lại đầy đủ hơn. Tại đây, lúc khởi đầu của loài người và của Sách Thánh, nguyên thủy thiên thượng và tánh chất thánh khiết của hôn nhơn đã được xác định: Một người nam, một người nữ, một thịt (câu 24).

Kinh Thánh hình dung hôn nhơn như là đạo nghĩa trần gian đối chiếu với mối liên quan giữa Ðấng Christ và Hội Thánh (Ê-phê-sô 5:25-32; Khải Huyền 19:7; 21:2-9). Hội Thánh được xưng là "Tân Phụ" của Ðấng Christ. Tân phụ của A-đam được làm nên bởi sườn ông đang khi ông ngủ (câu 21, 22). Ðó có thể là bức tranh nguyên thủy về Hội Thánh: Tân phụ của Ðấng Christ, được tạo nên bởi "huyết và nước" từ cạnh sườn Ðấng Christ chảy ra, đang khi Ngài "ngủ" trên Thập tự giá (Giăng 19:34; I Giăng 5:6, 8).

"Trần truồng, mà chẳng hổ thẹn" (câu 25). Có lẽ họ được bao phủ bằng sự sáng cao khiết của Ðức Chúa Trời, cũng như Ðức Chúa Jêsus khi Ngài hóa hình vậy (Mác 9:3). Sự sáng nầy đã biến mất khi tội lỗi xen vào; song một ngày kia, nó lại sẽ bao phủ những người được cứu chuộc (Khải Huyền 3:4; 21:23). Theo chỗ ta biết, trong mọi loài Ðức Chúa Trời dựng nên, chỉ có loài người mặc quần áo, đó là dấu hiệu tỏ ra bổn tánh tội lỗi của chúng ta và là chứng cớ thầm lặng về chơn lý nguyên thủy.

 

Vị trí của vườn Ê-đen

Vườn ở trên bờ sông Ơ-phơ-rát và sông Ti-gơ-rơ, tại nơi hai sông nầy gặp sông Bi-sôn và sông Ghi-hôn (2:10-14). Chưa chỉ đúng được vị trí sông Bi-sôn và sông Ghi-hôn. Sông Ơ-phơ-rát và sông Ti-gơ-rơ phát nguyên từ miền núi Causase, ở Tây nam Á Châu, chảy về phía Ðông nam, rồi đổ vào vịnh Ba-tư, là một vũng của Ấn độ dương.

Vậy, ta có thể nói rằng loài người đã được dựng nên và đặt trên đất, vào khoảng gần giữa mặt địa cầu; vì khu vực sông Ơ-phơ-rát và núi Caucase ở gần trung tâm của đông bán cầu, vốn rộng lớn hơn tây bán cầu.

Nói chung, các nhà nhơn chủng học đều nhận xét rằng khu vực nầy là nơi phát tích mọi chủng tộc của loài người. Từ khu vực nầy sản xuất con bò, dê, chiên, ngựa, heo, chó, và phần nhiều gia súc. Tại đây cũng phát sanh trái táo, đào, lê, mận, anh đào, mộc qua, dâu, phúc bồn tử, nho, ô-li-ve, vả, chà là, hột giẻ, lúa mì, lúa mạch, lúa kiều mạch, đậu, cây gai, rau dền, củ cải, hành, và hầu hết trái cây cùng rau cỏ của chúng ta. Ðó là nơi loài người phát xuất.

 

Xứ Ba-by-lôn

Một số người tưởng rằng vùng cao nguyên xứ ạc-mê-ni, nơi nguồn sông Ơ-phơ-rát và sông Ti-gơ-rơ (có lẽ thời ấy chưa cao hơn mặt biển nhiều như ngày nay), có thể là vị trí đặc biệt của vườn Ê-đen. Dầu vậy, theo truyền thoại và theo phần đông người đồng ý, thì vị trí của vườn Ê-đen chính là xứ Ba-by-lôn, gần cửa sông Ơ-phơ-rát. "Edin" là tên thời thượng cổ của đồng bằng Ba-by-lôn.

Hiện nay, sông Ơ-phơ-rát và sông Ti-gơ-rơ gặp nhau chừng 100 dặm phía trên vịnh Ba-tư. Ðương thời Áp-ra-ham, vịnh nầy ăn sâu vào địa lục đến tận U-rơ, và hai sông nầy đổ vào vịnh bởi nhiều nhánh riêng biệt, theo như những dòng chấm trên bản đồ ở trang 64 chỉ tỏ. Cả đồng bằng Ba-by-lôn do phù sa của hai con sông nầy kết thành. Lòng hai con sông nầy thường hay đổi chiều.

Có lẽ đương thời A-đam, hai sông nầy hợp nhau một quãng, rồi lại chia ra trước khi đổ vào vịnh Ba-tư.

Vườn Ê-đen ở trên dòng sông hợp nhứt, khoảng giữa chỗ hợp lại và chỗ chia ra, và như vậy, chia thành bốn "ngả"(2) (2:10). Hai con sông cứ chảy tới bờ phía Ðông và bờ phía Tây của vịnh Ba-tư, và được gọi là Bi-sôn và Ghi-hôn. Trên những bi văn thượng cổ, vịnh Ba-tư được gọi là một "con sông." Thủy triều của nó lên cao chừng 3 thước, làm cho những dòng sông nầy nhô lên, trông giống như "đầu" người vậy.

Bản đồ số 20 -- Nơi loài người phát tích

 

Bí Chú Khảo Cổ:  Eridu, vườn Ê-đen theo truyền thoại

Chỗ đặc biệt mà truyền thoại xác định là vị trí vườn Ê-đen chính là một nhóm gò nỗng cách U-rơ 12 dặm về phía Nam, gọi tên là Eridu (Abu Sharem). Giác trụ của Weld có ghi rằng hai vua đầu tiên trong lịch sử đã trị vì ở Eridu.

Các bi văn cổ xứ Ba-by-lôn ghi rằng: "Gần Eridu có một khu vườn, trong đó có một cây thiêng liêng, mầu nhiệm, gọi là cây sự sống, do các thần trồng. Rễ nó ăn sâu, còn nhánh lên cao tận trời, có các thần linh canh giữ, và không ai tới gần bên cây được."

Di tích của Eridu đã do HallThompson đào bới năm 1918-1919. Hai ông nầy thuộc Anh quốc Bảo tàng viện, đã thấy bằng cớ tỏ rõ Eridu vốn là một đô thị thạnh vượng có văn hóa, và được tôn trọng như là nơi phát tích của loài người.

 

Khu vực Eridu

Cuộc đào bới đã tỏ ra rằng trong những thời kỳ lịch sử đầu tiên mà ta được biết, khu vực chung quanh Eridu có cư dân đông đúc, và trải qua bao nhiêu thế kỷ, là trung tâm thông trị thế giới. Tại khu vực nầy, người ta đã tìm được nhiều bi văn cổ nhứt và quí giá nhứt.

U-rơ, nơi sanh trưởng của Áp-ra-ham, chỉ cách Eridu 12 dặm.

Fara, nơi sanh trưởng của Nô-ê theo truyền thoại, cách Eridu 70 dặm.

'Obeid (Al 'Ubaid), nơi tìm được tài liệu lịch sử lâu đời nhứt, chỉ cách Eridu 15 dặm.

Lagash, nơi tìm được những thơ viện thượng cổ rộng lớn, chỉ cách Eridu 60 dặm.

Nippur, một trung tâm thơ viện khác, cách Eridu 100 dặm.

Ê-rết (Sáng thế ký 10:10), một trong những đô thị của Nim-rốt, cách Eridu 50 dặm.

Larsa, nơi tìm thấy giác trụ của Weld, cách Eridu chừng 40 dặm.

Ba-by-lôn chỉ cách Eridu 150 dặm.

 

Ðoạn 3 -- Loài người sa ngã

Sự sa ngã của loài người xảy ra do sự xảo trá và mưu chước của con rắn. Theo Kinh Thánh chép, thì con rắn tự nó nói được. Nhưng các đoạn Kinh Thánh khác chỉ tỏ rằng chính là Sa-tan đã nói bởi con rắn (II Cô-rinh-tô 11:3, 14; Khải Huyền 12:9; 20:2). Lúc đó A-đam và Ê-va ở một mình, chẳng có bầu bạn nào trừ ra các súc vật, và ông bà có vẻ thân mật với chúng lắm (2:19, 20). Có người tưởng rằng nguyên thủy con rắn đứng thẳng được, rất đẹp đẽ, và tự nhiên thích hợp nhứt để làm dụng cụ của Sa-tan. Nó dụ dỗ A-đam và Ê-va không vâng lời Ðấng Tạo Hóa của họ. Việc khủng khiếp đã xảy ra. Tấm vải liệm của tội lỗi, tối tăm, làm lụng khó nhọc, đau đớn và sự chết phủ trên một thế giới mà Ðức Chúa Trời đã làm nên rất đẹp đẽ và "rất tốt lành" (1:31). Không vâng lời Chúa, nên sanh ra tội lỗi và sự chết.

 

Tại sao Ðức Chúa Trời làm nên người có thể phạm tội?

Ðức Chúa Trời há có thể dựng nên người một cách khác, trừ ra làm họ như một cái máy, hoặc như con vật chỉ do trực giác sai khiến? Há có thể có một loài thọ tạo có ý niệm đạo đức mà lại không có quyền lựa chọn sao? Tự Do là điều Ðức Chúa Trời phú bẩm cho loài người: Tự do tư tưởng, tự do lựa chọn, tự do tín ngưỡng, -- mặc dầu loài người dùng sự tự do ấy để chối bỏ và không vâng lời Ðức Chúa Trời mình.

Trong một tai nạn xe lửa kia, người thợ máy đáng lẽ có thể nhảy ra ngoài để cứu mạng mình, nhưng đã ở nguyên tại chỗ, thi hành phận sự, do đó, ông cứu được hành khách, nhưng lại bỏ mạng. Họ bèn dựng đài kỷ niệm, chẳng phải cho đoàn xe lửa, vì nó chỉ làm việc máy móc buộc nó phải làm, nhưng cho người thợ máy, vì ông đã tự ý lựa chọn mà liều mình để cứu hành khách. Sự vâng lời Ðức Chúa Trời sẽ có giá trị gì nếu trong bổn tánh ta không có một ý hướng làm trái lại? Nhưng nếu ta vâng lời Ðức Chúa Trời bởi tự ý lựa chọn và bởi chống lại sự xui giục mạnh mẽ của bổn tánh mình, thì sự vâng lời đó mới là do tâm tình cương nghị.

Nhưng Ðức Chúa Trời há chẳng biết trước rằng loài người sẽ phạm tội sao?

Có chớ, và Ngài cũng biết trước những hậu quả khủng khiếp, tối hậu nữa. Chúng ta chịu đau khổ quá, và nhiều lần tự hỏi tại sao Ðức Chúa Trời lại tạo nên một thế giới như vậy? Nhưng ngày kia, khi mọi sự đã tới chỗ thực hiện chung kết, thì sự đau đớn của ta sẽ hết, ta chẳng còn ngạc nhiên nữa, và cùng với những người được cứu chuộc của mọi thời đại, chúng ta sẽ hòa tiếng hát: "A-lê-lu-gia!" vô tận để ngợi khen Ðức Chúa Trời vì Ngài đã dựng nên chúng ta như vậy đó, và vì Ngài cứ dắt dẫn ta đến sự sống, vui mừng, vinh hiển trong cõi đời đời vô tận (Khải Huyền 19:1-8).

 

Ảnh hưởng của tội lỗi trên cõi thiên nhiên

Ðây, trong những trang đầu Kinh Thánh, chúng ta thấy lời giải thích khởi thủy về cõi thiên nhiên đúng như tình trạng của nó ngày nay: Người ta thường ghét loài rắn (3:14, 15); đờn bà đau đớn khi sanh con (3:15); trái đất tự nhiên sanh nhiều loài cỏ vô ích, còn cây cỏ dùng làm lương thực thì phải trồng trọt rất khó nhọc (3:17-19); cũng có lời giải thích khởi thủy về căn nguyên ngày yên nghỉ (2:2, 3), căn nguyên của hôn nhơn (2:24), và có dự ngôn về Ðấng Christ trong "dòng dõi người nữ" (3:15) và trong tế lễ chuộc tội (4:4).

 

"Dòng dõi người nữ" (câu 15)

Ðây, ngay sau khi loài người sa ngã, Ðức Chúa Trời ban lời tiên tri và quyết chắc rằng nhờ "dòng dõi người nữ," sự dựng nên loài người sẽ còn được chứng tỏ là thành công mỹ mãn. Ðó là lời đầu tiên trong Kinh Thánh ngụ ý nói tới Ðấng Cứu Chuộc hầu đến. Chữ "người(1)" ở câu 15 tỏ ra rằng chỉ nói đến một người thôi. Chỉ có một người dòng dõi của Ê-va do người nữ sanh ra, chớ không do người nam. Ðây, ngay đầu truyện tích Kinh Thánh, đã có dự ngôn nguyên thủy về Ðấng Christ; rồi lần qua các trang, những lời ngụ ý, dự ngôn, hình ảnh mập mờ, hình bóng và những lời tuyên bố tỏ tường càng lâu càng rõ, càng nhiều, đến nỗi khi chấm hết Cựu Ước, thì đã có một bức tranh khá đầy đủ của Ðấng Christ.

 

"Mẹ của cả loài người" (câu 20)

Ơn cứu chuộc bởi Ðấng Christ căn cứ trên sự duy nhứt của loài người. Tội lỗi của một người đã gây nên sự chết, và sự chết của một Người đã đem lại ơn cứu chuộc khỏi tội lỗi (Rô-ma 5:12-19).

 

 

Bí Chú Khảo Cổ:  Truyền thoại của xứ Ba-by-lôn về loài người sa ngã

Những bi văn thượng cổ của xứ Ba-by-lôn nói nhiều đến "cây sự sống" và loài người đã bị đuổi xa cây ấy do ảnh hưởng của một tà thần mượn hình con rắn; và những chê-ru-bin đứng canh giữ đã ngăn cản không cho loài người trở về bên cây ấy.

Trong số những tấm bảng nầy có truyện tích "Adapa," giống hệt như truyện tích A-đam trong Kinh Thánh, đến nỗi "Adapa" được gọi là A-đam của xứ Ba-by-lôn: "Adapa, dòng dõi của loài người, vốn là kẻ khôn ngoan ở Eridu, và không chỗ trách được. Song ông đã làm mếch lòng các thần bởi sự hiểu biết của mình, nên rồi phải chết, không được ăn thực phẩm sanh mạng. Ông làm cho ai nấy bị bịnh tật. Các thần nói rằng ông sẽ không được yên nghỉ, và mặc áo tang cho ông." (Xem sách "Monuments and the Old Testament" của Price).

Có hai cái ấn thời cổ dường như vẽ đúng bức tranh mà sách Sáng thế ký đã mô tả bằng lời.

Ấn "Cám dỗ" tìm được giữa các tấm bảng thượng cổ của xứ Ba-by-lôn và hiện nay đặt ở Anh quốc Bảo tàng viện, dường như liên quan rõ ràng với truyện tích Vườn Ê-đen. Chính giữa có một cái cây, bên hữu có người nam; bên tả có người nữ đang hái trái, đằng sau người nữ có con rắn đứng thẳng, dường như đang nói thầm với bà.

Ấn "A-đam và Ê-va" do Tấn sĩ E.A. Speiser, thuộc Bảo tàng viện của Ðại học đường Pennsylvania, tìm thấy năm 1932, gần chơn gò nỗng Tepe Gawra, cách thành Ni-ni-ve 12 dặm về phía Bắc. Ông cho rằng ấn nầy có từ năm 3500 T.C., và nó "nhắc lại rõ ràng truyện tích A-đam và Ê-va: " Một người nam lõa thể và một người nữ lõa thể, bước đi dường như hoàn toàn thất vọng, có con rắn theo sau. Ấn nầy có đường kính chừng 2 phân rưỡi, và khắc trên đá. Hiện nay nó đặt tại Bảo tàng viện của Ðại học đường Philadelphia.

Sự quan trọng của những bi văn thương cổ nầy. -- Những tài liệu cổ nầy, ghi trên đá và đất sét chính lúc khởi đầu lịch sử, tại nơi phát tích của loài người, được bảo tồn dưới bụi đất của các thời đại, và rốt lại bây giờ được cái cuốc của nhà khảo cổ đem ra ánh sáng, chính là bằng cớ hiển nhiên rằng các nét chính của truyện tích A-đam trong Kinh Thánh đã in sâu vào tư tưởng của người thượng cổ.

 

Các truyền thoại khác về sự sa ngã của loài người

Ba-tư: Tổ tông chúng ta vốn hồn nhiên, đức hạnh, sung sướng, ở trong một cái vườn, tại đó có cây trường sanh bất tử, cho đến khi một ác thần mượn hình con rắn hiện ra. Có lẽ họ nhận được truyền thoại nầy nơi Gia-phết, cũng như dân Hê-bơ-rơ đã nhận được truyền thoại của mình nơi Sem.

Ấn Ðộ: Trong thời đại đầu tiên, loài người không có tội ác, tật bịnh, muốn chi được nấy, và sống lâu.

Hi-lạp: Trong hoàng kim thời đại, những người đầu tiên trần truồng, không có tội ác và khổ nạn, được thông công không dứt với các thần, và đất tự nhiên sanh bông trái.

Trung Hoa: Có truyền thoại về một thời kỳ hạnh phước, khi ấy người ta có đồ ăn dư dật, và chung quanh có những thú vật sống hòa bình.

Mông CổTây Tạng: Cũng có những truyền thoại tương tự.

Teutons (Ðức quốc thời xưa): Loài người nguyên thủy hưởng cuộc đời yến tiệc không dứt.

Hết thảy chủng tộc dã man: Có truyền thoại về một tình trạng văn minh hơn.

Chắc hẳn A-đam đã kể lại truyện tích nguyên thủy của vườn Ê-đen cho Mê-tu-sê-la, Mê-tu-sê-la kể lại cho Nô-ê, Nô-ê kể lại cho các con trai mình; rồi trong các nền văn hóa quốc gia, truyện tích nầy đã biến đổi nhiều cách và thô lậu. Những truyền thoại nầy há chẳng làm chứng về một thực sự căn bản nguyên thủy sao?

 

Ðoạn 4 -- Ca-in và A-bên

Giả định rằng khi A-đam và Ê-va mới được dựng nên, đã thành nhơn rồi, thì lúc giết A-bên, chắc Ca-in chừng 129 tuổi; vì sau đó ít lâu, Sết đã sanh ra, và lúc ấy A-đam đã 130 tuổi (5:3).

Tế lễ của A-bên (4:4) được Ðức Chúa Trời tiếp nhận vì ông là người công bình (I Giăng 3:12), và vì ông dâng lên bởi đức tin (Hê-bơ-rơ 11:4). Khi tội lỗi xen vào, thì dường như Ðức Chúa Trời đã truyền lịnh dâng tế lễ như vậy. Dường như đó là một thứ hình bóng nguyên thủy về Ðấng Christ chịu chết để đền tội loài người.

Vợ của Ca-in (4:17) chắc là em gái của ông, vì Ê-va là "mẹ của loài người" (3:20). A-đam có nhiều con trai,con gái mà Kinh Thánh không kể tên (5:4). Theo truyền thoại, thì ông sanh 33 con trai và 27 con gái.

Như vậy, Ca-in phải sợ ai? (4:14). Trong khoảng 130 năm từ khi A-đam được dựng nên cho đến khi A-bên bị giết, nhiều thế hệ đã sanh ra, và tổng số loài người có lẽ đã lên tới mấy ngàn người.

Dấu trên mình Ca-in (4:15). Bất cứ dấu nầy là gì, người ta chắc đã hiểu nghĩa của nó. Ðó chắc là căn nguyên của chữ viết; dấu hình dung một ý tưởng, và chẳng bao lâu, đã có nhiều dấu khác nhau cho nhiều ý tưởng khác nhau.

Thành của Ca-in (4:17) ở một nơi nào đó về phía Ðông vườn Ê-đen, có lẽ chỉ là một làng gồm những túp lều thô sơ, có vách phòng vệ chung quanh, dùng làm trụ sở cho con cháu ông đã bị từ bỏ.

Chủ nghĩa đa thê (4:19) chẳng bao lâu đã tiếp theo tội sát nhơn, trong gia đình Ca-in. Lúc khởi đầu, Ðức Chúa Trời đã truyền lịnh rằng một người nam sống chung với một người nữ trong cuộc hôn nhơn (2:24). Nhưng chẳng bao lâu, người nam đã sắp đặt cách khác.

 

Bí Chú Khảo Cổ:  Sự sử dụng kim khí trong thời thượng cổ

Khi A-đam còn sống, con cháu ông đã học tập dùng đồng, sắt và chế ra nhạc cụ (câu 21, 22).

Cách đây ít lâu, người ta cứ tưởng rằng nhơn loại không biết dùng sắt trước thế kỷ thứ 12. Những danh từ mà nhà sử học đã khảo cổ học đã dùng để chỉ các bước tấn bộ liên tiếp của nền văn mình là;

Cổ thạch khí thời đại: Dùng những viên đá không mài giũa ra hình chi hết.

Tân thạch khí thời đại: Dùng đá, xương và gỗ có mài giũa ra hình.

Giữa đồng khí và tân thạch khí thời đại: Chuyển từ dùng đá qua dùng kim khí.

Thanh đồng thời đại: 2500-1200 T.C..

 

Thời đại đồ sắt: Từ năm 1200 T.C. trở đi.

Năm 1933, Tấn sĩ H.E. FRANKFORT, thuộc Viện Ðông phương, đã tìm được trong di tích của thành Asmar, cách Ba-by-lôn chừng 100 dặm về phía Ðông Bắc, một lưỡi dao làm khoảng 2700 năm T.C.; như vậy, đã đẩy lui sự biết dùng sắt tới 1500 năm.

Những bi văn thượng cổ đã tỏ ra rằng xứ Ba-by-lôn chẳng hề có người không quen dùng kim khí ở đó. Ðã tìm thấy dụng cụ bằng đồng trong di tích của một số đô thị trước nạn nước lụt (xem mục: "Ðoạn 5, sách Sáng thế ký."

Giác trụ của Weld ghi tên 10 vị vua trường thọ đã trị vì trước nạn lụt, có nói rằng các vua thứ 3, 5 và 6 trị vì tại một thành tên là "Badgurgurru." Tên nầy nghĩa là "đô thị của những thợ đồng đỏ." Có lẽ đó là một truyền thoại về thành của Ca-in (4:17).

 

"Sách chép dòng dõi của A-đam" (5:1 đến 6:8)

Ðây là tài liệu thứ ba trong số tài liệu hợp thành sách Sáng thế ký. Nó chuyển đưa truyện tích tới năm thứ 500 của đời Nô-ê (5:32). Có lẽ tài liệu nầy do A-đam thuật lại đầu tiên, do Hê-nóc và Mê-tu-sê-la tiếp tục, rồi do Nô-ê kết thúc. Có lẽ Nô-ê đã ghi tài liệu nầy và hai tài liệu trước trên những tấm bảng đất sét, rồi đem chôn tại Sippar theo như truyền thoại. Có lẽ ông cũng sao lại những tấm bảng nầy và đem vào tàu.

 

Ðoạn 5 -- Gia hệ từ A-đam tới Nô-ê

Tuổi thọ của các ông nầy ghi như sau đây: A-đam, 930 tuổi; Sết, 912 tuổi; Ê-nót, 905 tuổi; Kê-nan, 910 tuổi; Ma-ha-la-le, 895 tuổi; Giê-rệt, 962 tuổi; Hê-nóc, 365 tuổi; Mê-tu-sê-la, 969 tuổi; Lê-méc, 777 tuổi; Nô-ê, 950 tuổi.

Người ta thường giải thích tuổi thượng thọ của các ông nầy, dựa vào lý thuyết rằng tội lỗi chỉ mới bắt đầu có ảnh hưởng độc hại trên loài người vốn phát sanh từ một bổn chất nguyên thủy là bất tử. Có người tưởng đây là tên của những thời kỳ triều đại, chớ chẳng phải của những cá nhơn. Có người lại tưởng rằng trong thời kỳ đó, một tháng được kể là một năm. Các nhà phê bình kim thời tự nhiên cho đó là thần thoại.

Những số tuổi trong đoạn nầy cùng với đoạn 6, câu 3, tỏ ra có 1656 năm giữa sự dựng nên loài người và nạn nước lụt. Có người nghĩ rằng vì gia phổ nầy và gia phổ ở đoạn 11, mỗi cái chỉ có 10 đời, nên có lẽ đã bị rút ngắn, cũng như gia phổ Ðức Chúa Jêsus ở sách Ma-thi-ơ, đoạn 1, vậy. Song mấy chữ dùng luôn, là: "tuổi, ... sanh, ... hưởng thọ," chống lại lý thuyết nầy.

 

Hê-nóc (câu 21-24)

Ông là người tốt hơn hết cả. Trong một xã hội gian ác khôn tả xiết, ông đã "đồng đi cùng Ðức Chúa Trời." Ông sanh 622 năm sau khi A-đam được dựng nên, nên đã cùng sống với A-đam 308 năm. "Ðức Chúa Trời tiếp ông đi" 69 năm trước khi Nô-ê sanh ra, lúc ông mới có 365 tuổi.

Cũng có một người nữa, là Ê-li, được biến hóa như vậy, không phải chết (II Các vua 2). Có lẽ Hê-nóc và Ê-li được Ðức Chúa Trời chỉ định để nêu lên trước cái số phận hạnh phước của các thánh đồ còn ở trong xác thịt khi Chúa tái lâm (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:17).

Người Ả-rập có một thần thoại rằng Hê-nóc đã đặt ra chữ viết. Tân Ước có nhắc đến một lời tiên tri của Hê-nóc (Giu-đe 14).

 

Mê-tu-sê-la (câu 25-27)

Ông sống lâu nhứt trong số 10 người nầy, đã hưởng thọ 969 tuổi, và là con trai của Hê-nóc. Ông đồng sống với A-đam 243 năm và với Sem 98 năm: như vậy, ông là cái vòng nối liền vườn Ê-đen với thế giới trước nạn nước lụt. Ông qua đời chính năm xảy ra nạn nước lụt.

 

Bí Chú Khảo Cổ:  Sự trường thọ trong thời kỳ nguyên thủy

Berosus, một sử gia Ba-by-lôn, khoảng 300 T.C., đã căn cứ vào các tài liệu trong miễu thờ Marduk mà chép sử; ông sao lục những bi văn thượng cổ mà phần nhiều đã tìm thấy, rồi kể ra 10 vua trường thọ đã trị vì trước nạn nước lụt, -- mỗi vua trị vì từ 10 ngàn tới 60 ngàn năm. Tên các vua ấy là: Aloros, Alaparos, Amelon Ammenon, Megalaros, Daonos, Eudorachos, Amenpsinos, Otiartes, và Xisuthros. Berosus nói rằng: "Nạn Ðại hồng thủy xảy ra đương thời Xisuthros."

Giác trụ của Weld và các bi văn ở Nippur cũng phù hợp với Berosus về mỗi đời trị vì lâu tới hàng vạn năm, nhưng lại kể tên các vua trước nạn nước lụt như sau đây:

 

Alulim                       trị vì tại Eridu         28.000   năm

Alalmar                     trị vì tại Eridu         36.000   năm

Emenluanna               trị vì tại Badgurgurru 43.000 năm

Kichunna                   trị vì tại Larsa         43.000   năm

Enmangalanna            trị vì tại Badgurgurru 28.000 năm

Dumuzi                      trị vì tại Badgurgurru 36.000 năm

Sibzianna                   trị vì tại Larak         28.000   năm

Emenduranna             trị vì tại Sippar        21.000   năm

Uburratum                 trị vì tại Shuruppak 18.000   năm

Zinsuddu (Utnapishtim)            trị vì tại Shuruppak   64.000        năm

"Rồi nước lụt phá hoại mặt đất."

Ðó chắc cũng là những vua mà Berosus đã ghi chép, song sau khi tiếng nói lộn xộn tại Ba-bên, thì tên đã kêu khác đi. Những tấm bảng ghi các tên nầy đã viết sau khi thời kỳ lịch sử bắt đầu. Khi nói về những thời kỳ tiền sử, dường như người đời xưa cũng bị cám dỗ như người đời nay, -- ấy là tăng gia quá đáng số năm của thế giới nguyên thủy.

Ngoài người Ba-by-lôn ra, người Ba-tư, Ai-cập, Ấn-độ, Hy-lạp và nhiều dân khác cũng có truyền thoại về những người thượng cổ trên mặt đất sống rất lâu. Các truyền thoại ấy từ đâu mà có, nếu chẳng phải là vì những người thượng cổ thật đã sống lâu?

 

Bí Chú Khảo Cổ:  Ðào bới tại các đô thị trước nạn nước lụt

Người ta đã xác định được những đô thị ghi trên đây là nơi trị vì của các vua trước nạn nước lụt, trừ ra Badgurgurru. Cuộc đào bới di tích của những đô thị nầy và của nhiều đô thị khác trước nạn nước lụt, đã đem ra ánh sáng nhiều đặc điểm của sự sanh hoạt trước nạn nước lụt và đã cho ta thấy thế giới của những đoạn đầu sách Sáng thế ký là xác thực.

Trong số các đô thị trước nạn nước lụt mà người ta đào bới lên có: Eridu, 'Obeid, Ê-rết (Sáng thế ký 10:10), Sura, Tepe, Gawra, U-rơ, Kish, Fara (Shuruppak), Sippar (A-cát -- Sáng thế ký 10:10), Larsa, Jemdet Nasr. Nhờ di tích của những đô thị nầy, các nhà khảo cổ đã tiến đến gần sát khởi điểm đời sống định cư tại xứ Ba-by-lôn.

Trong số di vật của những dân tộc trước nạn nước lụt mà người ta tìm thấy ở các đóng hoang tàn nầy, có đồ gốm tô màu; đồ dùng bằng đá lửa; đồ dùng bằng hắc diệu thạch (obsidienne); bình bằng lam ngọc; rìu bằng đồng; gương soi bằng đồng; cuốc; lưỡi liềm; các thứ đồ dùng bằng đá, đá lửa, đá thạch anh; lưỡi câu; các kiểu thuyền; một lò nung ở dưới đất; nhiều mẫu đồ gốm hóa thành pha-lê tuyệt đẹp; thuốc mà phụ nữ thời tiền sử dùng để kẻ lông mày và mí mắt; di tích bằng gạch của các miễu thờ, -- gạch nầy tô màu đỏ hoặc trát hồ; đồ gốm có vẽ hình màu rất đẹp, như mẫu kỷ hà học phức tạp, chim, một cái xe ngựa; và những công trình kiến trúc chứng tỏ "một nền văn minh tấn bộ lạ lùng."

 

Ðoạn 6:1-8 -- Tội ác thời trước nạn nước lụt

"Các con trai của Ðức Chúa Trời" (6:2)

Người ta tưởng rằng các con trai nầy hoặc là thiên sứ sa ngã mà thơ II Phi-e-rơ 2:4 và Giu-đe 6 có nói đến, hoặc là những thủ lãnh trong gia tộc Sết đã cưới gả lẫn lộn với d