|
Chữ Thứ Mười
Sáu AYIN (Con mắt)
Số tiêu biểu: 70
|
Chữ thứ mười sáu là
AYIN (đây là một chữ câm, như chữ ALEPH, phiên âm như một dấu phẩy ngược, phát
âm bằng những nguyên âm theo nó). Chữ nầy có nghĩa là con mắt (đơn). Cả Kinh
Thánh Tân và Cựu Ước nói đến chữ nầy 578 lần.
Con mắt được nói đến
lần đầu tiên do ma quỷ: "Ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở
ra, sẽ như Ðức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác" (Sáng thế ký 3:5).
Lần cuối cùng trong Khải thị 21:4 "Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt
chúng". Lời phán sau nầy bởi Ðấng ngự trên ngôi cao sang là Vua trên muôn
Vua, Chúa trên muôn Chúa truyền ra. Khi A-đam và Ê-va phạm tội, con mắt xác
thịt mở ra thì con mắt tâm linh bị mù tối. Dòng giống A-đam ở trong sự tối tăm,
không biết Ðức Chúa Trời là ai, không thấy sự chói lói của Tin lành vinh hiển.
Con cái Chúa là người đã tin nhận Ngài, được Ngài mở mắt lòng, nhìn xem sự vinh
hiển của Chúa Giê-xu, lòng được thỏa mãn, khoan khoái vì Ngài đặt những khải
tượng thuộc linh trong lòng tín đồ, khiến họ có đức tin vững chắc. Họ thấy
những điều mà người ngoại không thấy, tức là họ cứ nhìn xem Chúa Giê-xu là cội
rễ và cuối cùng của đức tin và cứ bước đi trong đức tin.
Khi xưa các vị tiên
tri được người ta mệnh danh là người có khải tượng, là kẻ tiên kiến. Họ được
mệnh danh như thế vì họ thấy xa hơn người khác. Các thi nhân có cặp mắt khác
hơn người thường, họ có thể thấy những điều mầu nhiệm trong những đóa hoa,
trong non cao, hố thẳm, biển cả, rừng xanh; họ thấy những điều mà người khác
không thấy. Các khoa học gia là những người có mắt quan sát các sự vật quanh
mình, từ đó khám phá ra những định luật thiên nhiên. Khi ông Newton nhìn thấy
một quả táo rơi xuống đất, ông suy luận có một luật hút từ trái đất. Hàng triệu
người cũng từng thấy quả táo rơi xuống đất, nhưng họ không thấy gì nữa ngoài
quả táo rơi xuống đất! Với Newton thì ông biết có một luật gọi là hấp lực hay
trọng lực trong cõi thiên nhiên. Và nhiều nhà phát minh khác cũng do quan sát
sự vật trong cõi thiên nhiên mà sáng chế ra những máy móc thuận lợi cho đời
sống con người.
Trong lãnh vực thuộc
linh cũng thế, nhiều người tín đồ tin Chúa lâu năm (chỉ có trong danh sách mà
thôi) nhưng không có một khải tượng thuộc linh nào. Như Sau-lơ (sau là sứ đồ
Phao-lô) trước khi tin nhận Chúa ông không thấy gì khác trong Chúa Giê-xu, ông
xem Ngài như một người bịp bợm, mị dân, tà giáo, nên ông tìm mọi cách để đàn áp
những kẻ tin theo Ngài. Ông thấy trong tín đồ Ðấng Christ có những điều mà ông
cho là kỳ quặc, phản lại Do-thái giáo, thù nghịch cùng Ðức Chúa Trời, nên ông
bắt bớ, tàn sát họ như mãnh hổ vồ nuốt con mồi. Nhưng trên đường Ða mách ông đã
gặp Chúa, mắt xác thịt bị mù song mắt lòng được mở ra, ông thấy rõ Chúa Giê-xu
không phải là kẻ bịp bợm, lường gạt như ông tưởng, song Ngài thật là Ðức Chúa
Trời thành nhục thể, một Ðấng Mê-si đã đến thế gian làm Cứu Chúa của mọi người.
Ông nhận thức giá trị thật của sự trung tín nơi các môn đồ Ngài. Con mắt Chúa
soi thấu lòng ông, bấy giờ cả hai mắt thuộc linh và thuộc thể ông được sáng
sủa. Ông có một khải tượng mới, một ý chí vững chắc để đầu phục Ngài.
Con mắt Chúa Giê-xu đã
từng khóc về tội lỗi của thành Giê ru sa lem. Ngài khóc về thành Giê ru sa lem
vì thành nầy đáng lý ra phải là nguồn phước cho cả thế gian. Ngài yêu thành
thánh nầy vì sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời ở trên thành ấy. Nhưng Ngài chỉ
thấy sự bội nghịch, thành sẽ bị hủy diệt vì từ chối Ðấng Mê-si là chính mình
Ngài. Ngài thấy, Ngài cảm xúc và Ngài khóc!
Ngài khóc khi La-xa-rơ
chết, Ngài thấy vô số người đã chết, đang chết và sẽ chết trong tội lỗi. Họ bị
trầm luân đời đời nơi địa ngục. Ngài thấy, Ngài cảm xúc và Ngài khóc!
Khi tiên tri Giê-rê-mi
thấy tội lỗi của dân Giu-đa quá lớn, ông đã khóc dầm dề, Chúa bảo ông rằng một
mình ông khóc cũng chưa đủ, phải mướn người ta khóc, phải dạy người ta khóc vì
sự bội nghịch của dân sự và sự hình phạt của Ðức Chúa Trời sắp đổ xuống trên
dân Y-sơ-ra-ên (Giê-rê-mi chương 9).
Khi Ê-xơ-ra và một số
người Y-sơ-ra-ên được phép trở về xứ Giu-đa, xây sửa lại thành Giê ru sa lem và
đền thờ, lúc họ khởi sự xây lại đền thờ thì những người trước kia đã từng thấy
đền thờ cũ, cùng sự vinh quang rạng rỡ của nó thì liền khóc la lớn tiếng trong
khi người ta bắt đầu xây nền (Ê-xơ-ra 3:12,13).Ê-xơ-ra đã cầu nguyện, khóc lóc
cho dân Y-sơ-ra-ên vì họ lấy vợ ngoại bang. Dân sự khóc lóc nức nở vì con mắt
xác thịt của họ bị cám dỗ mà lấy vợ ngoại bang, họ khóc lóc ăn năn tội. Khi mắt
lòng họ mở ra họ nhất định lập ước với Ðức Chúa Trời, họ đuổi những người vợ
ngoại bang ra khỏi nhà cùng với con cái họ (Ê-xơ-ra chương 10). Họ ăn năn khóc
lóc là một việc, nhưng nếu chỉ khóc mà thôi cũng chưa đủ, họ phải lập ước với
Ðức Chúa Trời, phải từ bỏ mọi sự sai lầm thật lòng trở lại cùng Chúa. Chỉ khi
nào chúng ta cảm xúc, khóc rồi trở lại làm theo ý chỉ của Chúa thì mới được
phước. Khi con mắt lòng được mở ra, bấy giờ chúng ta mới thấy, mới cảm xúc và
mới khóc lóc cách đắng cay.
Con mắt của Giu-đa
Ích-ca-ri-ốt thấy bạc thì ham thích, bằng lòng đổi mạng thầy mình với ba mươi
miếng bạc. Nhưng khi thấy Chúa bị án thì hối hận, nhưng không khóc, không ăn
năn nên bị loại bỏ. Con mắt Phi-e-rơ thấy những người trong sân thầy cả thượng
phẩm thì sợ nên chối Chúa; sau đó thấy ánh mắt Chúa nhìn đến ông, ông ăn năn
thực sự đã "khóc lóc cách đắng cay". Chúa tha thứ và dùng ông cách lạ
lùng.
Nếu chúng ta yêu
thương linh hồn tội nhân như chính Ðấng Christ, nếu chúng ta nhìn họ qua cặp
mắt Chúa Giê-xu, chúng ta sẽ thấy, sẽ cảm xúc và sẽ khóc. Chẳng những chúng ta
khóc mà thôi, nhưng tình yêu thương của Ðấng Christ cảm động khiến chúng ta vừa
muốn vừa làm theo ý chỉ của Ngài là vâng mạng Ngài đi ra làm chứng về Chúa, dắt
họ về với Chúa hầu Chúa cứu linh hồn họ, đó là làm theo ý tốt của Ngài vậy.
Cũng có những con mắt
không khóc được, con mắt vẫn mở rộng ra, vẫn thấy rõ và chỉ thấy những cái may
mắn, phước hạnh, khả năng, ân tứ của người khác để mà tức bực, khó chịu v.
v... Ðó là
con mắt ganh đố. Con mắt của vua Sau-lơ
thời Cựu Ứơc đối với Ða-vít là con mắt ganh tị, ghen ghét như trên. Có một loại mắt khác nữa: con mắt kiêu ngạo,
tự mãn, tự thị. Ðức Chúa Trời đã từng
lên án dân Y-sơ-ra-ên là kẻ có con mắt nầy rằng: "Khốn thay cho kẻ chính
mắt mình coi mình là khôn ngoan, tự mình xét đoán mình là thông sáng"
(Ê-sai 5:21). Nếu ai có con mắt ấy, hãy
xin Chúa cho nó mù đi, để con mắt "xem người khác như tôn trọng hơn
mình" được mở ra hầu không làm cớ vấp phạm cho ai, song làm gương tốt cho
mọi người. At tự cho mình là sáng tức
là kẻ ấy đang bị mù (Giăng 9:39-41).
Chữ AYIN là con mắt, bao gồm cả mắt thuộc linh và thuộc
thể, mắt Chúa và mắt người. Con mắt xui
người ta phạm tội như Ê-va, con mắt khiến người ta được phước như Môi-se. Chúng ta là con cái Chúa, con mắt thuộc linh
của chúng ta sáng sủa thì khi Ngài hiện ra chúng ta sẽ thấy Ngài cách rõ ràng,
vì con mắt ấy đã được chữa lành bởi thuốc xức mắt của Chúa Giê-xu.