Sa-an-bim (Shaalbim)
Khi những người
A-mô-rít bắt ép con cái chi phái Ðan vào
các núi rồi, thì họ đến ở núi
Hê-re, A-gia-lôn và Sa-an-bim, tại đó
dường như họ phải phục nhà Giô-sép
(Các quan xét 1:35). Trong đời vua
Sa-lô-môn, Sa-an-bim ở trong địa phận cai
trị của triều thần vua là Bên-đê-ke
(I Các vua 4:9); luôn với
Bết-Sê-mết, Ê-lôn của
t-Ha-nan. Bết-Sê-mết có lẽ là
một với Yết-Sê-mết (Giô-suê
19-42).
Sa-a-ra-im (Shaaraim hoặc Sharaim)
I. Một thành trong phần
đất chia cho chi phái Giu-đa (Giô-suê
15:36), dường như ở phía Tây Sô-cô và
A-xê-ca (so I Sa-mu-ên 17:52), 1). Ðạo binh
của người Phi-li-tin thất trận chạy trốn
qua đó, từ Sô-cô đi về hướng thành
Gát và Éc-rôn. Có lẽ hai cửa thành chỉ
về hai đồn lũy của người Phi-li-tin.
Thành đó có thể là một với Tell
Zakariya.II.
Sa-a-ra-im, một trong các thành của
Si-mê-ôn, chắc là một chỗ khác (I Sử
ký 4:31); trong Giô-suê 19:6 gọi là
Sê-a-ru-chen. Thành nầy ở phía Tây nam xứ
Pha-lê-tin, có lẽ là một với đồn lũy
Sharhana, một nơi quan hệ trên đường
từ Ga-xa đến Ai-cập.
Sa-bu-lôn (Zebulun)
I. Con thứ mười của
Gia-cốp, và là thứ sáu bởi nàng Lê-a
(Sáng thế ký 30:19,20). Sa-bu-lôn
xuống xứ Ai-cập cùng với cha mình (Xuất
Ê-díp-tô ký 1:3). Người có ba con:
Sê-rết, Ê-lôn, và Gia-lê-ên (Sáng
thế ký 46:14). Gia-cốp trong lời từ
giã của mình, chúc phước cho các con trai,
mô tả Sa-bu-lôn như là "nơi ở gành
biển, tức là nơi có tàu đậu, bờ cõi
chạy về hướng Si-đôn" (Sáng
thế ký 49:13). Bức tranh nầy được
thực hiện trong phần chính, không phải
các tiểu tiết. Sa-bu-lôn được chia
cho phần đất miền phụ cận giáp
biển, và được hưởng những chợ tại
các thành trên bờ biển; song chính
Sa-bu-lôn cũng bị ngăn cách khỏi biển
Ga-li-lê bởi Nép-ta-li và Y-sa-ca, và khỏi
biển Ðịa-trung-hải và thành Si-đôn
bởi chi phái A-se. Sự thiếu điều
hòa hiệp giữa bức tranh tả vẽ trong
lời của Gia-cốp và tình hình thật của chi
phái trong Pha-lê-tin là một chứng cớ rất
mạnh tỏ ra không phải bài đó chép sau khi
các chi phái đã ngụ trong xứ, song là
chơn thật.II.
Chi phái sáng lập bởi Sa-bu-lôn. Từ ba con
trai của Sa-bu-lôn sanh ra các chi họ
lớn mà các chi phái bị chia ra (Dân số
ký 26:26,27). Khi lưu lạc trong đồng
vắng người vốn làm quan trưởng của chi
phái là Ê-li-áp con trai của Hê-lôn (Dân
số ký 1:9; 10:16), và sau có
Ê-líp-sa-phan, con của Phác-nát, làm quan
trưởng (34:25). Người dọ thám chi phái
cử ra là Gát-đi-ên, con trai của Sô-đi
(13:10). Lần tu bộ dân sự thứ nhứt, có
57.400 người đi ra trận được (1:30,31);
lần thứ 2 có 60.500 (Dân số ký 26:27).
y là một trong sáu chi phái có những
đại biểu đứng trên núi Ê-banh
để đọc lời rủa sả các kẻ phạm
luật pháp (Phục truyền luật lệ
ký 27:13 so Giô-suê 8:32,35). Môi-se
trước khi qua đời, hiệp hai anh em là
các con sau của Lê-a, cùng với lời tiên
tri của Gia-cốp trong trí, chỉ định lịch
sử tương lai của chúng như vầy: "Hỡi
Sa-bu-lôn, khá vui mừng về cuộc mình
đi ra ngoài, còn ngươi, Y-sa-ca, hãy hớn
hở trong các trại mình. Hai người sẽ
gọi các dân tộc lên núi; tại đó
dâng những của tế lễ công bình: vì
hai người sẽ hút sự dư dật của biển,
và những bửu vật lấp dưới cát"
(Phục truyền luật lệ ký
33:18,19). Trên núi cơ nghiệp của Ðức
Giê-hô-va (Xuất Ê-díp-tô ký 15:17).
Ngài sẽ lập dân lựa chọn Ngài,
Sa-bu-lôn và Y-sa-ca sẽ đem những của lễ
giàu có dâng cho Ðấng ban ơn rộng lượng.
Cuộc chinh chiến
xứ Ca-na-an, Sa-bu-lôn được chia cho phần
đất tại miền Bắc của xứ. Ðịa phận
đó ở phía Bắc Y-sa-ca, Ðông giáp A-se,
Nam và Tây giáp Nép-ta-li (Giô-suê
19:27,34). Ðịa giới miền Nam của chi
phái chạy từ Ðáp-rát đến chơn phía
Tây núi Tha-bô, qua Kít-lốt Tha-bô, và sau
dọc theo đồng bằng Esdraelon, kế
đó qua đồng bằng mà đến rạch ở
trước Giốc-nê-am (câu 11,12), có lẽ là
wady el-Milh, một sông nhỏ đổ vào Ki-sôn.
Ðịa giới phía Ðông tới Gát-hê-phe, có
lẽ 5 cây số về phía Bắc, gần phía
Ðông Na-xa-rét, và tới Rim-môn, độ 10
cây số hầu như ở phía Bắc Na-xa-rét (câu
13). Ở góc Tây Bắc địa phận là trũng
Díp-thách-Ên (câu 14), có lẽ chừng 15 cây
số phía Bắc bởi phía Tây Na-xa-rét, và
để lại đồng bằng phì nhiêu el-Buttauf
trong các giới hạn của Sa-bu-lôn. Vì
Bết-lê-hem, chừng 12 cây số Tây bắc
Na-xa-rét, thuộc về Sa-bu-lôn (câu 15),
giới hạn phía Tây chắc là một phần Wady
el-Khalladiyeh. Phần đất thuộc về
Sa-bu-lôn thì màu mở. y gồm cả một
phần miền núi ở hạ lưu Ga-li-lê và
góc Tây bắc của đồng bằng Esdraelon.
Những người
Sa-bu-lôn dự một phần quan hệ trong lực
lượng của Ba-rác đánh nhau với Si-sê-ra
(Các quan xét 4:6-10; 5:14,18), và về
đạo binh của Ghê-đê-ôn trong chiến
trận với người Ma-đi-an (6:35). Ðê-bô-ra
hát bài ca rằng có những kẻ cầm cây phủ
việt đến từ Sa-bu-lôn, hoặc cây
gậy của các thầy thông giáo (5:14), tức
là những thầy thông giáo họp thành
một đạo binh (II Các vua 25:19). Quan xét
Ê-lôn là người thuộc chi phái Sa-bu-lôn,
hành chức, chết, và được chôn tại
A-gia-lôn, trong giới hạn (Các quan xét
12:12). Chừng 50.000 chiến sĩ thuộc chi
phái, với những quan tướng khéo léo và
trung tín, cùng đi với các chi phái
đến Hếp-rôn mà tôn Ða-vít làm
vua (I Sử ký 12:33,40). Dít-ma-hia là
người cai quản chi phái Sa-bu-lôn trong
đời Ða-vít (I Sử ký 27:19). Chi phái
với phần sót dân ở Ga-li-lê chịu đau khổ
nhiều trong những chiến trận với
người A-sy-ri song Ê-sai nói tiên tri chi
phái đó sẽ được phước lớn bù lại
trong thời đại của Ðấng Mê-si trị vì
(Ê-sai 9:1,2; Ma-thi-ơ 4:12-16). Về hình
bóng có lời trưng dẫn về sự dân
ngoại trở lại đạo (Ê-sai 60:5,6,16;
66:11,12) "Vì sự dư dật dưới biển
sẽ trở đến,v.v." và về Chúa
Jêsus là sự Sáng thật, hành chức vụ phần
lớn tại Ga-li-lê, xứ của Sa-bu-lôn và
Nép-ta-li, là phần tối tăm nhứt và
nhiều dân ngoại nhứt của Pha-lê-tin.
Vài người thuộc chi phái nhận lời mời
của vua Ê-xê-chia đến thành
Giê-ru-sa-lem và dự Lễ Vượt Qua lớn (II
Sử ký 30:10,11,18). Ê-xê-chi-ên cũng
chỉ định một cửa thành cho người
Sa-bu-lôn tại Giê-ru-sa-lem mới mà tiên tri
tả vẽ (Ê-xê-chi-ên 48:33) và về chi
phái nầy có 12.000 người được đóng ấn
trong sự hiện thấy của tác giả sách
Khải Huyền (Khải Huyền 7:8). Những
đồn lũy của Sa-bu-lôn cứ đứng vững
chống với người La-mã rất lâu trong
chiến trận chót giữa hai dân tộc.
Sa-chát-si-ma (Shahazimah hoặc
Shahazumah)
Một thành trong địa
phận của Y-sa-ca, trên địa giới chạy từ
núi Tha-bô đến sông Giô-đanh
(Giô-suê 19:22). Nơi có thành chưa tìm ra
được, có lẽ ở phía Ðông nam núi đó.
Sạt-đe (Sardis)
Là kinh đô của Ly-đi,
trong Tiểu-A-si, ở trên bờ sông Pactole
và chơn núi Tmolus. Ở phía Bắc thành
thấy trũng Hermus. Tại phía Nam có hai trụ
theo lối kiến trúc xứ Ionie của
Ðền thờ nữ thần Cybèle, đường kính
đo được 1m90, 10m50 ở dưới kinh đô.
Ðồn lũy thì ở trên một đồi rất cao và
dốc, dốc đến nỗi Crxsus, vua cuối
cùng, bỏ qua không canh gác. Khi Si-ru, vua
Ba-tư vây thành, một người lình của Vua,
nhơn thấy một người Ly-đi do những bực
thang đào dưới đất xuống lấy mão trụ
mình đã mất, thì lính đó dẫn một cơ
binh Ba-tư theo những bực đó mà vào
vệ thành (acropolis). Tại thành nầy còn
có di tích một rạp hát rộng 122 thước và
một sân vận động rộng chừng 305 thước;
và hai nhà thờ. Sạt-đe có danh tiếng
vì truyện xưa về cát ở sông
pactole có lẫn lộn vàng, mà Crésus nhờ
đó trở nên rất giàu có.Duy trong Hội Thánh Sạt-đe
và Lao-đi-xê thuộc 7 hội mà Khải
Huyền 2: và 3: nói đến là không
có sự tranh đấu với kẻ thù ở trong hay ở
ngoài. Không hội nào trong cả hai dường
như đã từ bỏ sự phản đối thế gian
nhưng không làm chứng trung tín bằng lời
hoặc gương đến nỗi "khuấy
hại dân sự trên đất" (11:10).
Si-miệc-nơ và Phi-la-đen-phi là hai hội
bị khốn khổ nhứt chỉ nhận sự khen ngợi
không có lời quở trách. Sạt-đe và
Lao-đi-xê, giàu có nhứt, ngoài lời quở
trách còn nhận ít sự khen ngợi. Sạt-đe
"có tiếng là sống nhưng mà là
chết" (3:1; I Ti-mô-thê 5:6; II
Ti-mô-thê 3:5; Tít 1:16; Ê-phê-sô 2:1,5;
5:14). Thật có cần "hãy tỉnh thức,...
làm cho vững sự còn lại," tức một ít
ơn mà trong sự mơ ngủ thuộc linh chưa tắt
hẳn, đến nỗi Sạt-đe chưa hoàn
toàn chết. Vì công việc của Hội
Thánh đó không "đầy đủ trước mặt
Ðức Chúa Trời" (3:2 bản Vatican). Ðức
Chúa Trời của Ðấng Christ tức là của ta,
sự phán xét của Ðấng Christ tức là của
Ðức Cha (Giăng 20:17; 5:22). Ngài ngăm
dọa Sạt-đe nếu hội đó không tỉnh
thức hoặc thức dậy, Ngài "sẽ đến
như kẻ trộm," như tục ngữ Hy-lạp
"chơn của các thần báo thù bọc
lông chiên" bày tỏ rằng sự phán xét
của Ðức Chúa Trời đến gần cách êm
nhẹ, nên tưởng là con xa. Dầu vậy,
Sạt-đe còn một số ít "tên" chép
trong sách sự sống, mà Chúa nhận là thuộc
về Ngài (Giăng 10:3). Ðức Chúa Trời
đầy ơn không bỏ qua mấy thánh đồ đặc
biệt trong vòng các tín đồ chỉ có
danh. Phần thưởng hợp với các đức tánh
họ. "Mấy người chưa làm ô uế
áo xống mình," vậy "những kẻ đó
sẽ mặc áo trắng đi (thái độ thứ nhứt
để tỏ ơn điển là lợi) cùng ta,
vì họ xứng đáng như vậy," tức
sự xứng đáng của Ðấng Christ mặc trên
họ (Khải Huyền 7:14; Ê-xê-chi-ên
16;14). Ðịa vị của ơn điển hiện
nay hòa hiệp với vinh hiển đời sau.
Ðấng Christ không quở trách cách luống
nhưng. Melito, giám mục hội Sạt-đe,
thế kỷ thứ II, có danh tiếng
về sự tin kính, có đi thăm viếng
xứ Pha-lê-tin để tra xét về bản
Cựu Ước được công nhận, và viết
một thơ tín về điều đó.
Năm 17 S.C., dưới
đời hoàng đế Tibère, có một cơn
động đất làm cho Sạt-đe và 11 thành phố
khác trong cõi A-si bị hoang vu; vì cớ đó,
La-mã miễn thuế cho thành trong khoảng 5
năm.
Sa-la-min (Salamis)
Một thành ở phía
Ðông đảo Chíp-rơ trên bờ biển. Theo
lời truyền khẩu thì Teucer xây cất
lên, từ đảo Sa-la-min đối ngang bờ
biển nước Hy-lạp. Thành có một hải
cảng đông đúc và thạnh vượng nhứt trong
đảo Chíp-rơ và trong thời kỳ của người
Hê-lê-nít và người La-mã, thường thông
thương với Si-li-si và Sy-ri. Dân cư lẫn
lộn người Hy-lạp và người Phê-ni-xi. Tại
đó có nhiều nhà hội của người
Do-thái mà Phao-lô trong cuộc lưu hành
truyền đạo lần thứ nhứt có đến
giảng (Công vụ các sứ đồ 13:4,5). Nơi
đó sau gọi là Constantia, và ngày nay
gọi là Famagusta.
Sa-lê-kết (Shallecheth hoặc
Shalleketh)
Một cổng ở phía Tây
đền thờ của vua Sa-lô-môn tại thành
Giê-ru-sa-lem (ISử-ký 26:16). Cũng là
Sa-lê-kết trong bảng KJV và RSV.
Sa-lem (Salem hoặc Shalem)
I. Nơi có
Mên-chi-xê-đéc làm vua (Sáng thế
ký 14:18; Hê-bơ-rơ 7:1,2). Không
thể nói đúng ở đâu. Có hai quan
niệm chính thường luận đến trong
các lời giải nghĩa sớm nhứt. (1) Theo các
nhà giải nghĩa Do-thái, thì quyết rằng
Sa-lem là Giê-ru-sa-lem; vì các thành nơi
đồng bắng có lẽ ở phía Nam Biển
Chết, và "trũng Vua" là trũng
Kít-rôn mà lời truyền khẩu và Josèphe
nói gần Giê-ru-sa-lem; và vì cớ
Giê-ru-sa-lem được gọi như vậy trong
Thi Thiên 76:2. Vả lại, A-đô-ni-Xê-đéc,
vua thành Giê-ru-sa-lem (Giô-suê 10:3),
được tỏ rõ là vua kế tự
Mên-chi-xê-đéc, và Sa-lem là một danh
hiệu chung của các vua Giê-bu-sít. (2)
Song chính Jérôme không đồng ý
kiến đó, Giáo phụ nầy không trù trừ
mà nói rằng Sa-lem của Mên-chi-xê-đéc
không phải là Giê-ru-sa-lem, song chỉ là
một thành ở gần Scythopolis, trong đời
mình hãy còn gọi là Sa-lem. Chỗ
khác Jérôme nói đích là cách xa
Scythopolis 8 dặm La-mã, và tên bấy giờ
gọi là Salumias. Jérôme lại cho Sa-lem
là một với Sa-lim của Giăng Báp Tít.II. Thi Thiên 76:2. Hết
thảy đều hiệp ý rằng Sa-lem
dùng ở đây chỉ về Giê-ru-sa-lem, song
không biết hoặc viết vắn tắt cho
hiệp với vần của thi ca, hoặc chỉ
về sự bình an mà thành được hưởng
là nhờ sự che chở của Ðức Chúa Trời,
hoặc theo thói quen thường thấy ở các thi
sĩ, tên cổ thường được chuộng hơn tên
mới và đã quen rồi, là vấn đề vẫn
chưa giải quyết.
Sa-lim (Salim, Shaalim hoặc
Shalim)
I. Một nơi dường như
ở trong Ép-ra-im, mà Sau-lơ đi qua khi bỏ
đất Sa-li-sa để tìm những lừa của cha
mình (I Sa-mu-ên 9:4). Không rõ ở đâu.II. Một nơi được chép
trong Giăng 3:23 để tỏ rõ Ê-nôn ở
đâu, tại đó Giăng Báp Tít làm những lễ
báp-têm chót. Sa-lim là một thành hoặc
một chỗ rất quen, và Ê-nôn là nơi có
các suối nước, hoặc dòng nước khác gần
đó. Van de Velde đồng ý với Eusèbe,
nói Sa-lim là cách phía Nam Beisân 10 cây
số, và cách sông Giô-đanh 3 cấy số
về phía Tây. Sa-lim cũng làm ứng
nghiệm những điều kiện chỉ tên
Ê-nôn (các suối nước) là nơi có nước
dư dật.
Sa-li-sa (Shalisha hoặc
Shalishah)
Một địa phận dường
như ở miền núi Ép-ra-im mà Sau-lơ đi
qua khi đi tìm lừa của cha mình (I Sa-mu-ên
9:4). Không rõ ở đâu. Có lẽ cũng là một
với Ba-anh Sa-li-sa (II Các vua 4:42).
Sa-ma-ri (Samaria)
I. Thành.-- Kinh đô
của mười chi phái trong thời kỳ dài nhứt
của lịch sử các chi phái đó. Thành
Sa-ma-ri được lập lên bởi Ôm-ri, vua của
Y-sơ-ra-ên, trên một đồi mua với giá hai
ta lâng bạc. Tên của người chủ đất
trước là Sê-me, có nghĩa là sự tỉnh
thức, canh gác, giữ lấy, thì gợi ý là
tên thích hợp với thành ở trên núi. Theo
ý đó, Ôm-ri đặt tên thành nầy là
Shomeron, nơi canh gác (I Các vua 16:24).
Chỗ cao nhứt mà thành bao trùm có khi
gọi là núi của Sa-ma-ri (A-mốt 4:1;
6:1). Thành nầy ở giữa một trũng phì
nhiêu (Ê-sai 28:1). Nơi đó rất khéo lựa
chọn đến nỗi thành cứ tiếp
tục là kinh đô của nước cho đến khi
mười chi phái bị bắt làm phu tù, những
vua liên tiếp cai trị, và khi chết
được chôn tại đó (I Các vua 16:28,29;
20:43; 22:10,37,51, v.v.).Thành Sa-ma-ri được xây
cất vừa xong trước khi có chiến tranh
giữa Bên-ha-đát I, vua Sy-ri với Ôm-ri.
Bên ha-đát, nếu người con đã nói
thật, được thắng hơn, và muốn đẹp lòng
người thắng trận, Ôm-ri phải làm những
phố riêng trong Sa-ma-ri cho các nhà thương
mại Sy-ri (I Các vua 20:34). Trong đời vua
A-háp trị vì, là con của Ôm-ri và là
người kế tự, Bên-Ha-đát II có vây
thành song vô hiệu (I Các vua 20:1-21).
Trong hoặc gần thành có một hồ chứa
nước, trên bờ hồ đó, những người theo
hầu vua A-háp rửa xe vấy máu đã dùng mang
xác vua từ Ra-mốt Ga-la-át về nhà (I
Các vua 22:38). Trong đời trị vì có lẽ
của Giô-ram, Bên-Ha-đát II lại vây thành
song không hạ được (II Các vua 6:8-7:20).
Những trưởng lão ở tại Sa-ma-ri sợ mất
lòng Giê-hu, thì vâng lịnh người mà
giết 70 con A-háp (10:1-10).
Từ buổi khởi lập,
thành đã mang tiếng về sự thờ
hình tượng. A-háp dẫn đường cho sự thờ
thần ngoại bằng cách xây dựng một
đền thờ và bàn thờ cho Ba-anh (I Các
vua 16:32), và như trong đời vua trị vì có
nói đến 400 tiên tri của thần A-sê-ra
ăn tại bàn của hoàng hậu Giê-sa-bên
(18:19), có lẽ thần tượng gọi bằng
tên đó còn lại cho đến đời Giê-hu
(II Các vua 13:6). Sùng bái thần tượng đó
cũng có sự bại hoại về đạo đức
(Ô-sê 7:1-8; 13:16; A-mốt 4:1; 8:14). Chống
với những sự thờ lạy đó có tiên tri
Ê-li (I Các vua 18:) Ê-li-sê cũng lấy
thành phố làm trụ sở của mình (II Các vua
5:3-9; 6:32), và chắc chắn tiên tri Ô-sê
cũng làm việc tại đó. Nhiều tiên
tri ngăm đe Sa-ma-ri và nước sẽ bị đoán
phạt (Ê-sai 7:9; 8:4; Giê-rê-mi 31:5;
Ê-xê-chi-ên 16:46,51,53,55; 23:33; Ô-sê
8:5,6; 13:16; A-mốt 3:12; Mi-chê 1:5-9). Cuối
cùng, sự khốn khổ đã ngăm đe xảy
đến. Người A-sy-ri dưới quyền
Sanh-ma-na-se, 724 T.C., khởi sự xây thành
và ba năm sau, 722 T.C., vua A-sy-ri chiếm
được thành (II Các vua 17:3-6). Vinh
hiển của sự hạ được thành thì
Sa-gôn nhận thuộc về mình. Người
kế vị Sanh-ma-na-se và người lên ngôi
năm đó (Xem bài Sa-gôn). Những kẻ chinh
phục lại đem những người ngoại bang
đến ngụ tại thành (II Các vua 17:24).
Năm 332 hay 331 T.C., Alexandre le Grand
chiếm lấy thành Sa-ma-ri, và dời dân
cư tới Si-chem, đem những người
Sy-rô-Ma-xê-đoan thay thế cho. Chừng
năm 109 T.C., Jean Hyrcan vây thành Sa-ma-ri,
xây một tường bọc quanh thành dài
chừng 80 ch-ta-đơ hoặc độ 15 cây
số. Thành chống giữ được một năm, song
cuối cùng vì đói kém nên buộc phải
hàng. Người đắc thắng phá hủy hết
cả thành, và cố thử xóa bỏ những chứng
cớ tỏ ra chẳng bao giờ có một thành ở
trên núi. Vào đời Alexandre Jannaeus thì
thành lại có người ở. Pompey lấy thành
làm phụ cận của tỉnh Sy-ri. Gabinius sau
lại xây đồn lũy. Cuối cùng, thành được
xây lại và làm cho vững chắc bởi Hê-rốt
Lớn, gọi là Sebaste, một tiếng
Hy-lạp đối ngang với chữ Augustus, tên của
chủ Hê-rốt, là hoàng đế La-mã thứ
nhứt.
Tại Sa-ma-ri Phi-líp
giảng Tin lành làm việc có kết quả
(Công vụ các sứ đồ 8:5-8) và Si-môn,
người thuật sĩ dường như trở lại tin
Chúa (9-13). Muốn xem xét kết quả của
Phi-líp, Phi-e-rơ và Giăng có một lần từ
thành Giê-ru-sa-lem đến (14-25).
Nay, người ta
đều tin nơi có thành Sa-ma-ri xưa là
một với es-Sebustieh, một làng và nơi đổ
nát trên một núi độ 9 cây số Tây bắc
thành Si-chem, trung ương xứ Pha-lê-tin. Hai
sườn núi thì dốc, đỉnh núi là một mặt
bằng phẳng, từ Ðông sang Tây chừng 1 cây
số rưỡi. Có những trụ đã gãy, lớn, có
khi chạm, bằng đá, chắc là từ những nhà
quan hệ và những đống dơ dáy. Có ít
rác đổ xuống từ chỗ cao hơn, gợi
ý lời tiên tri của (Mi-chê 1:6).
II. Nước.-- Xem II
Các vua 19:24. Vì là địa giới của mười
chi phái hay là nước Y-sơ-ra-ên, thì lúc
đó Sa-ma-ri cũng được nói đến như
là nước đó (I Các vua 13:32; 21:1; II Các
vua 17:24; Nê-hê-mi 4:2; Ê-sai 7:9;
Giê-rê-mi 31:5; Ê-xê-chi-ên 16:46; A-mốt
3:9).
III. Xứ.-- Ðịa phận
của Sa-ma-ri, chiếm giữ miền trung
ương Pha-lê-tin, ở giữa Ga-li-lê phía Bắc
và Giu-đê phía Nam. Josèphe không mô tả
rõ các giới hạn của Sa-ma-ri song nói rõ
giới hạn phía Bắc đi qua "một làng
tức là đồng bằng lớn gọi là
Ginea." Nơi nầy dường như là
Ên-ga-nim (Giô-suê 19:21; 21:29) ở góc Nam
đồng bằng Esdraelon. Ðịa giới miền Nam
là Acrabattene, chừng 10 hoặc 11 cây số ở
phía Nam Si-chem. Sa-ma-ri lan rộng đến
sông Giô-đanh ở phía Ðông, song không
tới Ðịa-trung-hải ở phía Tây. Accho thuộc
về xứ Giu-đê. Sách Talmud nói
Antipatris là giới hạn phía Tây. Sa-ma-ri
bao gồm cả những phần đất của Ma-na-se
xưa ở phía Tây sông Giô-đanh, và của
Ép-ra-im với một phần của Y-sa-ca và
Bên-gia-min. Pompey, năm 63 T.C., liên lạc
xứ nầy vào tỉnh Sy-ri. Năm 6 S.C., hoàng
đế Au-gút-tơ lập Giu-đê, Sa-ma-ri và
Y-đu-mê trong một phần của quận Sy-ri
gọi là tỉnh Giu-đê và đặt ở dưới
quyền các quan tổng đốc, và sự sắp
đặt nầy thấy trong đời Cứu Chúa Jêsus.
Sa-mia (Shamir)
I. Một thành trong
miền núi Giu-đa (Giô-suê 15:48). Có lẽ
thành nầy cách xa Hếp-rôn chừng 12
hoặc 15 cây số ở phía Nam, song vẫn chưa
tìm được.II.
Một chỗ trong núi Ép-ra-im, nơi Thô-la,
là quan xét ở và được chôn tại đó
(Các quan xét 10:1,2). Có lẽ là Samur, ở
giữa đường Sa-ma-ri và Jenin.
Sa-môn (Salmone)
Một mỏm đất, làm
phần rất lớn ở phía Ðông đảo
Cơ-rết (Công vụ các sứ đồ 27:7). Nay,
còn giữ nguyên tên cũ.
Sa-mốt (Samos)
Một đảo Hy-lạp thuộc
phần xứ Tiểu A-si, mà tại đó Ionia
giáp với Caria. Sa-mốt đáng chú ý vì
là nơi Phao-lô trở lại sau cuộc lưu hành
truyền đạo lần thứ ba (Công vụ các
sứ đồ 20:15). Trước Phao-lô ở Chi-ô, và
sắp sửa đến Mi-lê sau khi đã đi qua
Ê-phê-sô mà không ghé tại đó, những
điều chép về địa thế bởi
Thánh Lu-ca là rất đúng. Trong đời
Hê-rốt Lớn, và khi Phao-lô còn ở đó,
về phần chính trị là "thành tự
do" trong tỉnh A-si.
Sa-mô-tra-xơ (Samothrace)
Tân Ước nói đến
đảo nầy trong truyện Phao-lô sang Âu
châu lần thứ nhứt (Công vụ các sứ đồ
16:11), cũng vì hai lý cớ đáng chú
ý đến. Thứ nhứt, là một đảo rất
cao và dễ thấy, ấy là địa điểm rất
tốt cho các nhà thủy thủ, và có thể
thấy rõ ràng, nếu trời quang, suốt cả
hành trình từ Trô-ách đến
Nê-a-bô-li. Thứ hai, cuộc hành trình nầy
gặp gió thuận. Không những chỉ chép mất
có hai bữa, cũng như sau lúc trở về
(Công vụ các sứ đồ 20:6), thời gian đi
trên biển là năm ngày, song theo
tiếng kỷ thuật đây dùng chỉ chạy
trước gió. Về địa điểm của
Sa-mô-tra-xơ cũng đúng như mấy điều
kể trên, và bởi đó chứng rằng
truyện chép trong Kinh Thánh là đúng.
Phao-lô cùng đồng bạn nhổ neo qua ban đêm
ở Sa-mô-tra-xơ. Thành xưa nầy ở phía Bắc
đảo, như vậy có thể được che khỏi
gió Ðông nam.
Sa-na-im (Zaanaim hoặc
Zaanannim)
Một thành trên biên
giới của Nép-ta-li (Giô-suê 19:33), gần
Ca-đe (Các quan xét 4:11). Conder tin rằng
thành nầy ở gần Bessum (trên chữ u có dấu
^), trên cao nguyên ở phía Tây biển
Ga-li-lê. Tại đây, có cây dẻ bộp, -- có
lẽ là một cây thánh, -- nói đến
để đánh dấu chỗ gần Hê-be,
người Kê-nít, cắm trại khi Si-sê-ra
đến ẩn trốn trong trại người.
Sanh-ca (Salcah, Salecah hoặc
Salchah)
Một thành của Ba-san,
gần t-rê-i (Phục truyền luật
lệ ký 3:10; Giô-suê 12:5; 13:11).
Nơi nầy ở trên địa giới của nước Óc
cai trị, và sau làm giới hạn phía Bắc của
chi phái Gát (I Sử ký 5:11). Nay là
Salkhad, tên cũ hơi thay đổi, cách phía
Ðông t-rê-i 52 cây số, ở phía Bắc
sông Giô-đanh, đối ngang Bết-Sê-an,
trong Sa-ma-ri.
Sanh-môn (Salmon hoặc Zalmon)
Một núi gần Si-chem
(Các quan xét 9:46; Thi Thiên 68:14).
San-sa-na (Sansannah)
Một thành ở phía cực
Nam xứ Do-thái (Giô-suê 15:31), là một với
Hát-sa-Su-sa (Giô-suê 19:5), một thành
thuộc chi phái Si-mê-ôn, và hầu như là
một với Hát-sa-Su-sim (I Sử ký 4:31).
Không thể nói rõ là ở đâu.
Sa-phi-rơ (Shaphir)
Một thành trong Giu-đa,
có lẽ ở phía Tây nam xứ Pha-lê-tin
(Mi-chê 1:11). Robinson và mấy người khác
cho rằng nơi đó là es-Suwâfir, 8 cây số
cách Ðông nam Ách-đốt.
Sa-rép-ta (Sarepta, Zarephath
hoặc Zarephath)
Là nơi tiên tri Ê-li
ở trong phần cuối cơn hạn hán. Tại đó,
tiên tri đã làm phép lạ thêm nhiều
dầu và bột trong vò của người đờn bà
góa, sau lại khiến cho bà góa đó từ
kẻ chết sống lại (I Các vua 17:8,9).
Không nói rằng nơi nầy ở gần hoặc thuộc
về Si-đôn. Kinh Thánh không nói rõ
địa điểm. Có Áp-đia nói đến
(câu 20), song chỉ là một thành của người
Ca-na-an (tức người Phê-ni-xi). Tên đó nay
còn có gọi là Surafend, một làng lớn
trên một đồi gần biển chừng 22 cây
số ở phía Bắc Ty-rơ, và 12 cây số cách
phía Nam Si-đôn. Dầu vậy, thành xưa, ở
trên bờ biển, tại đó có nhiều
chỗ đổ nát ăn rộng tới một cây số
rưỡi hoặc hơn nữa.
Sa-rít (Sarid)
Một ngôi làng ở ranh
giới của chi phái Sa-bu-lôn. Có lẽ ngày
nay là Tell Shadud, cách phía Tây Nam xứ
Na-xa-rét chừng 5 dặm (8 km) (Giô-suê 19:10;
19:12).
Sa-rôn (Sharon hoặc Lasharon)
Sa-ve (Shaveh)
Một trũng, sau gọi
là trũng Vua, ở gần Sa-lem, tại đó vua
Sô-đôm gặp Áp-ra-ham sau khi Áp-ra-ham đã
đánh bại Kết-rô-Lao-me (Sáng thế
ký 14:17,18). Áp-sa-lôm dựng một trụ
làm kỷ niệm cho chính mình (II
Sa-mu-ên 18:18), tại đó. Theo Josèphe thì
trụ đó ở cách Giê-ru-sa-lem 400 thước.
Sê-a-ru-chen (Sharuhen)
Một thành chỉ chép
đến trong Giô-suê 19:6, giữa vòng các
thành được chia cho Si-mê-ôn trong địa
phận Giu-đa. Sê-a-ru-chen không thấy có
trong sổ các thành của Giu-đa, song thay vì
tên đó, cũng chỗ đó đối với các
tên khác, ta thấy Si-lim (15:32). Trong I Sử
ký cũng có chỗ đó gọi là
Sa-a-ra-im (4:31).
Sê-ba (Seba, Shebah hoặc
Sheba)
Sê-bam (Sebam)
Một thành phía Ðông
của sông Giô-đanh thuộc chi phái Ru-bên
và Gát, thành nầy được chia cho hai chi
phái ấy theo lời yêu cầu của họ sau
khi Ðức Chúa Trời cho phép họ chinh
phục được nó (Dân-số Ký 32:3). Ngày
nay vị trí của thành nầy chưa biết
chắc.
Sê-bam (Shebam)
Là hình thức thay
thế của Síp-ma (Dân-số Ký 32:3).
Cũng là Sê-bam trong bảng KJV.
Sê-ca-ca (Secacah)
Một làng trong đồng
vắng xứ Giu-đê (Giô-suê 15:61). Conder nói
một cách không chắc nơi có làng đó là
Sikkeh hoặc Dikken, chừng 3 cây số ở phía
Ðông Bê-tha-ni.
Sê-cu (Secu hoặc Sechu)
Một làng ở gần thành
của Sa-mu-ên là Ra-ma (I Sa-mu-ên 19:22), có
lẽ đi về hướng Ghi-bê-a (câu 9).
Conder gợi ý rằng làng nầy ở độ 5
cây số phía Bắc Ra-ma.
Sê-i-rơ (Seir)
Sê-la (Sela)
Một nơi trong Ê-đôm,
bị A-ma-xia chiếm lấy, và đặt tên là
Giốc-then (II Các vua 14:17). Thành nầy ở
về hướng đồng vắng (Ê-sai 16:1). Chỉ
hơi trưng dẫn trong Các quan xét 1:36; có
lẽ trong II Sử ký 25:12; Ê-sai 42:11, và
Áp-đia 3:. Trong khúc chót mô tả dân cư
thành Sê-la ở trên núi cao, và các nhà
của họ giống như các tổ chim ưng vậy.
Hết thảy đều chỉ về một khe
bằng tiếng Hy-lạp gọi là Pétra, ấy
chỉ là chữ dịch từ tiếng Hê-bơ-rơ
Sê-la. Josèphe nói rằng tên của thành
trong đời mình gọi là Pétra. Chừng 300
T.C., Pétra từ người Ê-đôm sang tay
người Nabathaeans A-rạp. Từ đó, dòng vua
cai trị trong Pétra có mấy vua lấy danh
hiệu là A-rê-ta, một có nói đến
trong II Cô-rinh-tô 11:32. Theo lời
truyền khẩu, Phao-lô đến thăm
viếng Pétra khi "đi qua xứ
A-ra-bi" (Ga-la-ti 1:17). Nước của dân
Nabathxans đến năm 105 S.C. thì hết,
và Pétrx xứ A-ra-bi được kể là một
tỉnh thuộc đế quốc La-mã. Pétra cũng
như đế quốc La-mã dần dần suy đồi,
đến 629-32 S.C thì bị quân Hồi giáo
chinh phục và làm cho hoang vu, ngày nay chỉ
một vài người Bédouins còn ở.Pétra sau được tìm ra bởi
Burckhardt năm 1812, và từ đó có nhiều
khách du lịch tới. y là một nơi rất
kín đáo bao vây bởi các núi, mà nước
vẫn chảy từ phía Ðông Nam núi Hô-rơ làm
mòn mà thành ra. Trũng nầy cùng với mấy
trũng từ mình ra dài độ 1500 thước và
ngang từ 250 đến 500 thước, xung quanh
có các núi dốc thẳm. Phần chính nay
gọi là "trũng của Môi-se,"
dầu có lẽ chẳng bao giờ Môi-se ở đó. Có
một dòng nước chảy qua chính giữa, những
tảng đá đủ các màu đỏ, nâu, vàng,
trắng, -- thêm vào sự tốt đẹp của
chỗ đó. Cũng có lăng mộ, di tích,
đền thờ, đại diễn trường có từng
bậc, khải hoàn môn, v.v.. phần nhiều
từ đời đế quốc La-mã. Ngoài ra còn
có các mộ địa và những nhà ở trên các
dốc đá.
Sê-la-bin (Shaalabin)
Một thành thuộc về
chi phái Ðan (Giô-suê 19:42).
Sê-lơ-xi (Seleucia)
Một tỉnh trên bờ
biển của Sy-ri, gần cửa sông Orontes.
Ðồn lũy vững chắc và thuận hiệp làm
hải cảng nầy được xây cất bởi Seleucus
Nicator, một quan tướng của Alexandre le
Grand, và chính người là kẻ chinh phục và
là vua. y là hải cảng của An-ti-ốt;
thành cách xa cảng độ 24 cây số. Phao-lô
từ đó khởi cuộc lưu hành truyền đạo
lần thứ nhứt (Công vụ các sứ đồ 13:4).
Những di tích của hải cảng và thành nầy
còn ở Es-Suweidiyeh. Cảng có hai mỏm đá
nhô ra biển gọi là Phao-lô và
Ba-na-ba.
Sê-ma (Shema)
Một thành ở miền
Nam xứ Giu-đa, tọa lạc trong Negev
(Giô-suê 15:26).
Sê-nê (Seneh)
Tên của một trong hai
hòn đá đứng riêng "đối ngang
Mích-ma" (I Sử ký 14:4). y là
răng đá ở tại phía Nam (câu 5), đối
ngang Ghê-ba. Ở giữa hai răng đá nầy,
Giô-na-than và kẻ vác binh khí mình đi
qua, khi họ sắp sửa làm cho đồn quân
Phi-li-tin hoảng sợ. Josèphe có nói
đến nơi đạo binh của hoàng tử Titus
đóng trại cuối cùng là chỗ mà
"tiếng Hê-bơ-rơ gọi là
trũng," hoặc có lẽ là đồng bằng của
"các gai gốc, gần làng gọi là
Gabathsaoulé," tức là Ghi-bê-a của
Sau-lơ.
Sê-ni-rơ (Senir hoặc Shenir)
Là tên mà dân
A-mô-rít đặt cho ngọn núi Hẹt-môn,
có lẽ nói đến một đỉnh núi cụ
thể trong dãy núi (Phục-truyền
Luật-lệ Ký 3:9; Nhã-ca 4:8;
Ê-xê-chi-ên 27:5). Cũng là Sê-ni-rơ trong
bảng KJV.
Sê-pha (Sephar)
Theo danh sách của con
trai Giốc-tan, Sáng thế ký 10:30
chép "cõi đất của các người đó ở
về phía Sê-pha, chạy từ Mê-sa cho
đến núi Ðông-phương." Các dòng
dõi của Giốc-tan có lẽ di cư từ phía Tây
sang Ðông, và ăn ở miền Tây Nam của
bán đảo A-ra-bi. Các nơi và các chi phái
từ Giốc-tan sanh ra gồm có trong các địa
phận đó, và Sê-pha ở trên biên giới
phía Ðông. Dường như ngày nay hải cảng
gọi là Zafari là nơi có thành Sê-pha
chép trong Kinh Thánh.
Sê-phạt-va-im (Sepharvaim)
Từ phía Nam A-va, Cu-tha
và Ha-mát, vua A-sy-ri đem các thực dân
đến ở xứ Sa-ma-ri, sau khi 10 chi phái
bị phu tù (II Các vua 17:24). Ráp-sa-kê và
San-chê-ríp (18:34; 19:13) nói đến quân
A-sy-ri chinh phục Sê-phạt-va-im cách khoe
khoang, như để tỏ nỗi thất
vọng của sự chống giữa Sa-ma-ri (Ê-sai
36:19): "Nào các thần của Ha-mát...
của Sê-phạt-va-im đâu tá? Các thần ấy
đã cứu Sa-ma-ri khỏi tay ta chưa?"
Y-sơ-ra-ên đã chọn các thần của
Ha-mát và Sê-phạt-va-im thì lại bị giải
đến Ha-mát và Sê-phạt-va-im mà làm
phu tù tại đó, và dân sự của Ha-mát và
Sê-phạt-va-im được dẫn sang xứ của
người Y-sơ-ra-ên để thế cho, như
vậy sự báo ứng đúng biết dường nào
(Châm Ngôn 1:31; Giê-rê-mi 2:19).Sê-phạt-va-im là Sippara, phía Bắc
Ba-by-lôn, xây ở trên cả hai bờ sông
Ơ-phơ-rát (hoặc kinh nahr Agane), vì đó
nên có hai lối, -- aim "tức hai
Sipparas." Một Sippara gọi là
Sipar-sa-samas, tức dâng cho Samas, thần mặt
trời; còn một là Sipar-sa-Anunit, dâng cho
nữ thần Anunit. Những người Sê-phạt-va-im
thiêu con trẻ trong lửa cho Adrammelech và
Anammelech, quyền lực âm dương của mặt
trời; trên bia đá Sê-phạt-va-im được
gọi là "Sê-phạt-va-im của mặt
trời." Nê-bu-cát-nết-sa xây cất
đền thờ xưa, làm một nơi thánh và
theo truyền khẩu tại đó Xisuthrus
để những niên sử trước nước lụt,
trước khi vào tàu, bởi đó sau dòng dõi
người tìm được. Một phần của
Sê-phạt-va-im gọi là Agana, từ hồ chứa
nước của Nê-bu-cát-nết-sa lân cận,
Sê-phạt-va-im được gọi tắt là Sivra
và Sura, nơi xưa có nhà trường Do-thái
danh tiếng. Mosaib nay ở gần đó. Tên
Sippara có nghĩa là "thành của các
sách." Các khúc sách của Berosus
gọi là Pantibiblia (hết cả sách).
Ðây có lẽ là một thư viện giống như
đã tìm được ở Ni-ni-ve, và một phần
G.Simth và mấy người khác đã đọc
được.
Sê-pham (Shepham)
Một nơi ở trên địa
giới Ðông bắc xứ Ca-na-an, gần Ríp-la
(Dân số ký 34:10,11). Không biết rõ
ở đâu.
Sê-pha-rát (Sepharad)
Một nơi mà dân thành
Giê-ru-sa-lem bị bắt đến làm phu tù
(Áp-đia 20). Không biết rõ ở đâu.
Người ta gợi ý là Sparda, địa phận
thường nói chung với xứ Jonie, Arménie, và
Cáp-ba-đốc trong các bảng khắc Ba-tư và
có lẽ là một với Sạt-đe trong xứ
Tiểu A-si. Song có lý hơn là một
với Shaparda ở phía Tây nam xứ Mê-đi, mà
Sa-gôn đã đem người Y-sơ-ra-ên đến
các thành nước đó (II Các vua 17:6).
Sê-phe (Shepher hoặc Shapher)
Một núi tại đó
người Y-sơ-ra-ên cắm trại khi đi trong
đồng vắng (Dân số ký 33:23,24). Không
rõ ở đâu.
Sê-phê-la (Shephelah)
Một vùng nằm dưới
chân núi giữa đồng bằng ven biển
Phi-li-tin với vùng cao nguyên của Giu-đa.
Nó thường dùng làm nơi đánh trận giữa
dân Y-sơ-ra-ên và Phi-li-tin đang trong
đời các Quan xét và thời kỳ đầu quân
chủ. Giô-suê 15:33-41 liệt kê khoảng 30
thành và làng nằm trong vùng đất nầy.
Sê-phô-rít (Sepphoris)
Một thành trong xứ
Ga-li-lê, có thể được xem như thủ
phủ của vùng trong thời Chúa Jesus. Nó nằm
gần thành Na-xa-rét và ở trên dãy đất
cao. Thành đã được làm vững chắc, nhưng
cũng đã hư hỏng trải qua lịch sử dữ
dội. Dù Sê-phô-rít không thấy đề
cập đến trong Kinh Thánh, nhưng có lẽ
lắm Chúa Jesus biết rõ thành nầy và
từng đi trên các đường phố nó.
Sê-ri-a (Seirah hoặc Seirath)
Một nơi ở trong núi
Ép-ra-im, có lẽ là phần Ðông Nam, mà
Ê-hút đã đi trốn sau khi giết
c-lôn (Các quan xét 3:26).
Sê-sa-rê (Caesarea)
Một thành ở trên bờ
biển Pha-lê-tin, chừng 35 cây số ở
phía Nam núi Cạt-mên. thành được xây
cất bởi vua Hê-rốt Lớn, trên nơi có
thành gọi là Tháp Strato. Phải mất
mười hai năm mới xây xong, từ 25-13 T.C..
Cũng có xây một đập bằng đá dài 15m25,
rộng 5 thước rưỡi, và sâu 2m70. Ðập đó
rộng chừng 60 thước, nước sâu 20 sải, và
bao bọc một hải cảng rộng bằng A-thên.
Lối vào hải cảng nhơn tạo đó là bởi
phía Bắc, tại đó có một tháp. Thành có
một Ðền thờ, một rạp hát, và một
diễn đài có từng bậc, một hệ thống
cầu cống hoàn toàn để rút nước ra.
Hê-rốt đặt tên là thành Sê-sa-rê, tùy
theo tên chủ là Sê-sa-Au-gút-tơ. Cũng có
khi gọi là Sê-sa-rê của Pha-lê-tin,
hoặc Sê-sa-rê dựa mé biển để
phân biệt thành nầy với Sê-sa-rê
Phi-líp. Thành nầy trở nên kinh đô của
người La-mã tại xứ Pha-lê-tin.Tin lành được đem tới
đây bởi Phi-líp, thầy truyền đạo, và
là nơi ở của người (Công vụ các sứ đồ
8:40; 21:8). Chẳng bao lâu, sau khi Phao-lô
tin Chúa, bị nguy hiểm đến tính
mạng bởi người Do-thái tại Giê-ru-sa-lem,
các đồng đạo đem Sứ đồ xuống thành
Sê-sa-rê, từ đó người đi thuyền trở
về quê hương là Tạt-sơ, trong
Tiểu A-si (9:30). Tại thành Sê-sa-rê,
có thầy đội La-mã là Cọt-nây ở, mà
Phi-e-rơ giảng về Ðấng Christ, và đó
là tiếng kêu gọi người ngoại bang
(10:1,24; 11:11). Hê-rốt c-ríp-ba chết ở
tại Sê-sa-rê năm 44 S.C. (Công vụ các sứ
đồ 12:19,23). Phao-lô hai lần thăm
viếng thành, thấy có Hội Thánh (Công
vụ các sứ đồ 18:22; 21:8,16). Sau Phao-lô
bị cầm tù tại đó (23:23,33), và tại đó
Phao-lô bị xử trước Phê-tu và A.c-ríp-ba
(25:1-4, 6-13).
Dân trong thành nầy
thì lẫn lộn, và dòng giống nầy ghét nòi
giống kia đến nỗi trong đời Néron,
người Sy-ri đã tàn sát hết thảy
người Do-thái, bắt đầu cơn khủng bố cho
đến điểm tuyệt đích là 70
S.C., khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy phá
bởi hoàng tử Tít. Trong năm 195 S.C., có
giáo hội nghị họp tại đó. Có một
trường cho tín đồ Ðấng Christ lập ở
trong thành, có Origène dạy dỗ, mà
Eusèbe, sau làm giám mục tại Sê-sa-rê,
tòng học. Năm 548, người Do-thái và
người Sa-ma-ri hiệp nhau để xông
hãm tín đồ Ðấng Christ. Năm 638, thành
bị chiếm bởi người Hồi giáo. Năm
1102, thành bị chiếm bởi Thập tự quân,
chỉ huy bởi Baldouin I. Saladin lấy lại năm
1189, rồi lại bị Thập tự quân chiếm
lấy lần nữa năm 1191, song năm 1265 thì
mất vào tay Sultan Bibars.
Những nơi đổ nát
hiện nay chia làm hai thời kỳ. Trước
nhứt có một thành của người La-mã có
tường, rạp hát, trường đua, đập,
đền thờ, cống dẫn nước, và kế
đến thành thứ hai, có những di tích
của thành Thập tự quân với tường, lâu
đài đại giáo đường, nhà thờ nhỏ, hải
cảng. Tường người La-mã lan rộng từ Bắc
chí Nam độ 1.550 thước, từ Ðông sang Tây
820 thước. Hải cảng ngang độ 180 thước.
Có một kè đá chạy ra biển, có lẽ là
đập xưa. Nay hẳn còn gọi là
Kaisârieh.
Sê-sa-rê Phi-líp (Caesarea Philippi)
Một thành ở phía chơn
núi Hẹt-môn, ở nguồn chính sông
Giô-đanh, góc một đồng bằng nhỏ, có
đồi ở bốn bên, chỉ trừ phía Tây. Có khi
được kể là một với Ðan Cựu Ước,
song có lẽ hơn là Ba-anh Gát. Sự thờ lạy
thần Pan của người La-mã trước đã thịnh
hành lắm và Hê-rốt Lớn xây cất một
đền thờ cẩm thạch rất đẹp gần nơi
thánh đó gọi là Paneas. Thành sau
được mở rộng và được trang hoàng bởi
vua chư hầu Phi-líp, và tên được gọi
là Sê-sa-rê để tôn trọng hoàng
đế La-mã Ti-be-rơ. Chúa Jêsus và các
môn đồ đã đến thăm viếng rất
ít là một lần, và tại đó có sự hội
đàm quan hệ giữa Chúa Jêsus và
Phi-e-rơ về vấn đề: "Theo lời
người ta nói thì Con người là ai?"
(Ma-thi-ơ 16:13; Mác 8:27). c-ríp-ba II sau
cũng làm cho thành đẹp thêm và đổi tên
là Néronias để chúc mừng hoàng
đế Néron, song khi vua chết, tên
đó lập tức bị xóa bỏ. Sau khi Tít hủy
phá thành Giê-ru-sa-lem, thì diễn những
trò đánh gươm, mà một phần là ném
những phu tù Do-thái cho thú dữ, và buộc
phải đánh nhau đến chết. Một phần
đồn lũy còn lại, và có chữ Hy-lạp khắc
trên các hòn đá lân cận. Thành giảm bớt
đến nỗi chỉ còn là một làng nhỏ
gọi là Banias, từ tên trước là Panean.
Sê-sác (Sheshach)
Một từ liệu mật
để chỉ về thành Ba-by-lôn
(Giê-rê-mi 25:26; Giê-rê-mi 51:41).
Sem (Shem)
Con trưởng của Nô-ê
(Sáng thế ký 5:32) sanh ra khi cha
người đã 500 tuổi. Sem năm 98 tuổi, cưới
vợ, không con, trong kỳ Nước lụt. Sau đó,
Sem, cha, và anh em ruột, chị em, dâu và
vợ, nhận lời chúc phước của Ðức Chúa
Trời (9:1), và vào trong giao ước. Hai năm
sau, Sem trở nên cha của A-bác-sát (11:10),
và sau cũng sanh các con khác. Nhờ sự giúp
đỡ của Gia-phết, Sem che đậy sự lõa
thể của cha, mà Ca-na-an và Cham không
lo giấu. Trong lời tiên tri của Nô-ê có
quan thiệp đến việc nầy
(9:25-27), phước thứ nhứt đổ trên Sem.
Người hưởng thọ 600 tuổi rồi qua
đời. Phần đất mà dòng dõi Sem chiếm
cứ (10:21-31), chia đôi những phần đất
của Gia-phết và Cham, và lan rộng theo
một hàng không đứt quãng từ Ðịa trung
hải tới n độ dương. Khởi từ đầu
phía Tây bắc với Ly-đi, gồm cả Sy-ri
(A-ram), Canh-đê (A-bác-sát) các phần xứ
A-sy-ri (Asshur), Ba-tư (Ê-lam), và bán đảo
A-ra-bi (Giốc-tan). Có nhiều nhà học
giả ngày nay đã đặt tên Sémitique cho
các thứ tiếng của dòng dõi thật hoặc
giả định của Sem.
Sen (Shen)
Một nơi gần bên
chỗ Sa-mu-ên dựng một hòn đá, và
đặt tên là Ê-bên-Ê-xe (I Sa-mu-ên 7:12).
Không biết rõ ở đâu.
Sen-cơ-rê (Cenchrea)
Một thành mà được
đối đãi như là một cảng ở phía Ðông
cho thành Cô-rinh-tô, nằm cách hướng Tây
chừng 7 dặm (11 km). Phê-bê làm nữ chấp
sự của Hội Thánh Xen-cơ-rê (Công-vụ các
Sứ-đồ 18:18; Rô-ma 16:1).
Si-ba (Shibah)
Là tên giống cái của
Sê-ba (Sheba), tức lời thề. Là một
giếng mà các tôi tớ Y-sác đã đào
lại, mà Y-sác đặt tên là Si-ba, vì cớ
giao ước mà mình vừa lập với A-bi-mê-léc
(Sáng thế ký 26:33).
Si-chem (Shechem)
Một thành quan hệ
ở miền trung ương xứ Pha-lê-tin. Theo
ý nghĩa gốc của tiếng Hê-bơ-rơ
là "vai" chỉ rằng nơi đó ở trên
một núi hoặc sườn đồi nào; và ý
đó hiệp với Giô-suê 20:7 chép Si-chem
ở trên núi Ép-ra-im (so I Các vua 12:25),
và Các quan xét 9:9 chép ở dưới đỉnh
núi Ga-ri-xim thuộc về dãy Ép-ra-im.
Tên đó hiện nay, Nâbulus (trên chữ u
có dấu ^), là một tên hư đi từ chữ
Neapolis, là thành tiếp nối Si-chem cổ,
và chính Vespasien đã đặt tên mới đó.
Trên các đồng tiền còn lại thì
gọi là Flavia Neapolis. Nơi có thành là
một chỗ đẹp hơn hết. Thành đó
nằm ở trong một trũng có che phủ bởi núi
Ga-ri-xim phía Nam và Ê-banh phía Bắc. Chơn
hai núi đó, từ chỗ thành bắt đầu,
không xa nhau 500 thước. Ðáy trũng là độ
550 thước cao hơn mặt biển, và đỉnh
núi Ga-ri-xim còn cao hơn 250 thước nữa.Nơi có thành ngày nay cũng
là nơi có thành của người Hê-bơ-rơ
xưa, ở đúng trên đỉnh núi có nước
chảy bốn phía; các suối chảy từ nhiều
nguồn tại đó, xuống những dốc đối ngang
trũng, tràn ra trên đồng xanh, và có sự
phong phú khắp nơi. Các nhà du lịch
thường thi nhau dùng ngôn ngữ để tả
vẽ cảnh ở đây khi vào mùa Xuân hoặc
đầu mùa Hạ họ thình lình tới thiên
đàng nầy của Xứ Thánh. "Cả
trũng" theo lời Robinson, "đầy
những vườn rau cỏ, hoặc vườn cây ăn quả
đủ thứ, có các suối nước tưới và tỏa
ra ở khắp tứ phía, chảy về hướng Tây
trong các dòng nước mát mẻ. Thình lình ở
trước có một cảnh đẹp thần tiên. Trong
cả xứ Pha-lê-tin không có nơi nào so sánh
được. Tại đây ở dưới bóng một dãy
cây dâu, trên sườn núi, ta có thể
cắm trại qua đêm... Hôm sớm sau tiếng
hót của chim họa mi và các giống chim
khác ở các vườn xung quanh đó đánh thức
ta dậy."
Trong Kinh Thánh có
nhiều khúc nói về Si-chem, và tỏ
nơi đó quan hệ với lịch sử người
Do-thái là dường nào! Áp-ra-ham, trong
cuộc di cư thứ nhứt đến xứ đã hứa,
cắm trại và lập một bàn thờ dưới cây
dẻ bộp (hoặc cây thông) của Mô-rê tại
Si-chem. "Bấy giờ, người Ca-na-an ở
trong xứ," và lẽ tự nhiên miền
đó, nếu không phải là thành, thì đã
thuộc quyền sở hữu của thổ dân đó
(xem Sáng thế ký 12:6). Khi Gia-cốp
tới đây, sau cuộc hành trình đến xứ
Mê-sô-bô-ta-mi (Sáng thế ký 33:18;
34:). Si-chem là một thành Hê-vít mà
Hê-mô cha của Si-chem là người đứng
đầu. Vào hồi đó, tổ phụ mua một phần
đồng ruộng của quan trưởng đó, và sau
để lại cho con là Giô-sép (Sáng
thế ký 43:22; Giô-suê 24:32; Giăng
4:5). Ðồng ruộng chắc ở trên đồng bằng
phì nhiêu của Mukhna, và giá trị còn lớn
hơn vì cớ giếng Gia-cốp đã đào
để khỏi phải nhờ người lân cận mà
lấy nước. Sự lăng nhục nàng Ði-na, con
gái của Gia-cốp, sự chiếm lấy thành
Si-chem và tàn sát hết thảy nam đinh
trong thành bởi Si-mê-ôn và Lê-vi, là
biến động thuộc về thời nầy (Sáng
thế ký 34:1). Cây dẻ bộp mà
Áp-ra-ham đã thờ phượng Chúa còn sống
trong đời Gia-cốp (Sáng thế ký
35:1-4). "Cây dẻ bộp bia đá tại
Si-chem" (Các quan xét 9:6), là nơi
người Si-chem tôn A-bi-mê-léc làm vua, có
lẽ tỏ rõ sự tôn kính của người
Hê-bơ-rơ xưa đối với các dấu chơn các
tổ phụ họ trong Xứ Thánh là thế
nào. Trong sự phân chia xứ, Si-chem trúng
nhằm phần đất của Ép-ra-im (Giô-suê
20:7), song được ban cho người Lê-vi và
trở nên một thành ẩn náu (Giô-suê 20:7;
21:20-21). Cũng có sự quan hệ khác, vì
là cảnh tượng tuyên bố Luật pháp lần
nữa khi nghe những lời chúc phước trên
núi Ga-ri-xim và lời rủa sả trên Ê-banh,
và dân sự cúi đầu xuống công nhận Ðức
Giê-hô-va là Vua, là Quan trưởng cai trị
họ (Phục truyền luật lệ ký
27:11; Giô-suê 9:33-35). Tại đây, Giô-suê
nhóm hiệp dân sự ít lâu trước khi
người qua đời, và giảng giải những lời
khuyên dạy sau cùng (Giô-suê 24:1,25). Sau
khi Ghê-đê-ôn chết, A-bi-mê-léc, con
hoang của người, xui giục người trong
thành Si-chem nổi loạn và tôn mình làm vua
(Các quan xét 9:). Báo thù lại sự trục
xuất mình, sau cuộc trị vì là ba năm,
A-bi-mê-léc hủy phá thành, và để làm
dấu về số phận đó thì người rắc
muối xuống đất (Các quan xét 9:34-45).
Chẳng bao lâu, thành được lập lại, vì ta
thấy nói đến trong I Các vua 12: rằng
hết thảy người Y-sơ-ra-ên nhóm lại
tại Si-chem, và Rô-bô-am, con kế tự
của Sa-lô-môn, đến đó để khánh
thành làm vua. Cũng tại chỗ nầy, mười
chi phái bỏ nhà Ða-vít và để lòng
trung tín với Rô-bô-am (I Các vua 12:16),
dưới đời người cai trị, Si-chem có một
thời làm Kinh đô của nước vua đó. Từ
thuở khởi nguyên người Sa-ma-ri, lịch sử
Si-chem kết hiệp với lịch sử của
dân sự Si-chem và núi thánh họ là
Ga-ri-xim (Xem bài Sa-ma-ri).
Si-chem trong Tân Ước là thành
Si-kha ở Giăng 4:5; gần đó Cứu Chúa đã
nói chuyện với người đờn bà Sa-ma-ri
tại giếng Gia-cốp. Trong Công vụ các
sứ đồ 7:16, Ê-tiên nhắc lại cho những kẻ
nghe mình rằng mấy người trong tổ phụ (có
ý chỉ Giô-sép như ta thấy trong
Giô-suê 24:32, và tiếp theo, có lẽ có
lời truyền khẩu về các con trai
khác của Gia-cốp) được chôn tại Si-chem.
Dân cư ở Nâbulus
nay gồm có 5.000 người, trong số đó có
500 tín đồ Hội Thánh Hy-lạp; 150 người
Sa-ma-ri, và ít người Do-thái. Sự ghen
ghét giữa người Sa-ma-ri và người Do-thái
hẳn còn như ở trong đời Ðấng Christ.
Những người Hồi giáo, lẽ tất nhiên
thường ở đông. Giếng Gia-cốp và mộ
của Giô-sép được chỉ ra ở lân cận
thành. Giếng Gia-cốp cách xa phía Ðông
thành 2.400 thước, gần đường cái. Có khi
giống đó gọi là Bir Es-Samariyeh,
"giếng của người đờn bà
Sa-ma-ri." Giếng sâu 25 thước; có
hồi chỉ có ít nước, có hồi khô cạn
hết. Giếng nầy hoàn toàn đục trong
đá vững chắc hình tròn, đường kính độ
3 thước, cạnh giếng thì nhẵn và
đều. Giếng nầy chắc đúng như
trong đời Ðấng Christ. Mộ của Giô-sép
nằm ở phía Bắc giếng cách xa 400
thước, đúng cửa xuống trũng giữa
Ga-ri-xim và Ê-banh. y là mộ có hàng
rào vuông, tường quét vôi trắng, song có
điều đặc biệt là mộ để tréo
không để song hành như thường. Một
cột sần sùi dùng làm bàn thờ, ám khói
đen bởi lửa ở đầu và chơn mộ. Trên các
tường có những lớp vôi cát, mà người
Hê-bơ-rơ khắc chữ, và bên trong có đầy
tên những người đến viếng bằng
tiếng Hê-bơ-rơ, A-rạp và Sa-ma-ri.
Ngoài ra, không có gì đáng chú ý.
Lời truyền khẩu ở địa phương đó
về mộ, cũng như về giếng, đã
bắt đầu từ thế kỷ thứ IV rồi.
Siếc-rôn (Shicron hoặc
Shikkeron)
Một thành biên giới
của chi phái Giu-đa (Giô-suê 15:11). Ngày
nay có lẽ vị trí của nó là tại el-Ful
cách con sông Soreq về phía Bắc và
cách Éc-rôn 3 dặm rưởi về phía Tây
Bắc.
Si-ho (Sihor)
I. Si-ho của Ai-cập.--
(theo bản Anh cũ) là một sông đen và đục
(Giô-suê 13:3; 15:4,47, đọc là Si-ho
thì không đúng lắm). Trong I Sử ký
13:5 chép "Si-ho, khe Ai-cập" (tức
là phía Ðông xứ đó. y không phải
Ni-lơ; như có chép là "sông"
(hayeor, Sáng thế ký 41:1,3; Xuất
Ê-díp-tô ký 1:22), và chảy không phải
ở phía trước song là quá giữa xứ Ai-cập.
Nay gọi là wady El Arish, hay "sông
của Ai-cập", là địa giới miền Nam
xứ Ca-na-an về hướng Ai-cập (Dân số
ký 34:5). Trong Ê-sai 23:3; Giê-rê-mi
2:18 Si-ho chỉ về sông Ni-lơ.II. Si-ho Líp-nát (theo bản
Anh cũ). Xem Giô-suê 19:26. Một địa giới
của A-se. "Si-ho" không phải chỉ
riêng về sông Ni-lơ mà thôi. Không
phải là sông Belus hoặc sông thủy tinh, nay
là Nahr Naman, đổ vào biển Ðịa Trung
Hải mé dưới Acre, vì sông nầy xa quá
về phía Bắc. Chắc là Si-ho của
Cạt-mên, tại đó A-se có Ma-na-se làm giới
hạn (Giô-suê 17:10), Si-ho của Dor. Keil
đoán là nahr Zerka, là "sông cá
sấu" của Pliny; tên nầy nghĩa là
"xanh", vậy có thể hiệp
với cả hai Si-ho "đen" và Líp-nát
"trắng".
Si-hôn (Shihon)
Vua dân A-mô-rít khi
người Y-sơ-ra-ên đến trên các địa
giới của Xứ Thánh (Dân số ký 21:21);
kinh đô của vua ở Hết-bôn. Ít lâu
trước, Si-hôn đuổi dân Mô-áp từ xứ
giữa Hết-bôn và t-nôn, và chiếm
lấy (Dân số ký 21:26-30). Có năm chi
phái Ma-đi-an làm chư hầu của Si-hôn
(Giô-suê 13:21). Khi dân Y-sơ-ra-ên
đến trong đồng vắng ở phía Ðông nam
t-nôn Môi-se sai Sứ giả đến xin phép
Si-hôn đi qua xứ (Dân số ký 21:21,22;
Phục truyền luật lệ ký 2:26).
Si-hôn từ chối. Sau, dân Y-sơ-ra-ên vào
trong địa phận người vì cần đánh lấy
đường để tới sông Giô-đanh. Si-hôn
nhóm đạo binh mình lại ở Gia-hát và
chống những kẻ xâm lăng, song vì thất
bại, và Y-sơ-ra-ên chiếm lấy nước
người (Dân số ký 21:21-32; Thi Thiên
135:11). Như vậy, xứ chiếm được gồm
ở giữa sông Giô-đanh, rạch Gia-bốc, và
t-nôn (Dân số ký 21:24-32; Phục
truyền luật lệ ký 2:36; Các quan
xét 11:22). Trại của Y-sơ-ra-ên đóng tại
núi Phích-ga, một chỗ vững vàng trên
các núi A-ba-rim, gần trung ương địa phận
đã chiếm được để sửa sọan
chiến trận với Ba-san (Dân số ký
21:20; so 22:1; 33:47). Nước của Si-hôn sau
được ban cho Ru-bên và Gát, họ rất
ước ao vì có đồng cỏ xanh tươi (Dân số
ký 32:1-4, 33-38).
Si-kha (Sychar)
Một thành của xứ
Sa-ma-ri, ở chơn núi Ê-banh, gần phần đất
mà Gia-cốp đã ban cho Giô-sép con mình,
gần giếng Gia-cốp (Giăng 4:5,6). Ê-tiên
nói Gia-cốp và tổ phụ đều mai táng ở
đó (Công vụ các sứ đồ 7:15,16 chép
Si-chem so Sáng thế ký 48:22). Trước
kia, ai nấy đều tin Si-kha là tên
Hy-lạp từ Si-chem đã hư đi, hoặc một tên
hiệu đặt cho thành sau khi trở nên nơi
ở của người Sa-ma-ri, từ tiếng
Hê-bơ-rơ sheker, nghĩa là sai, hoặc shkkor,
nghĩa là say rượu; song nay nhiều
người tin rằng ấy là làng 'Askar, trên
dốc phía Ðông núi Ê-banh nơi ở phía Bắc
giếng Gia-cốp.
Si-la (Silla)
Còn gọi là nhà
của Mi-lô nơi vua Giô-ách bị giết
chết bởi các đầy tớ của ông
"trên con đường đi xuống Si-la"
(IICác-vua 12:20). Si-la là nơi chưa
biết rõ, có lẽ gần Giê-ru-sa-lem.
Si-lim (Shilhim)
Một thành ở phía cực
Nam xứ Do-thái (Giô-suê 15:32).
Si-li-si (Cilicia)
Một tỉnh ở xứ
Tiểu A-si, ngăn cách phía Bắc với
Cáp-ba-đốc , Ly-cao-ni và Isausia, bởi dãy
núi Taurus, phía Ðông với Sy-ri bởi dãy
núi A-ma-nus, Nam giáp Biển Ðịa trung
hải và Tây giáp xứ Bam-phi-li. Ngày xưa,
xứ chia làm hai phần; bên Tây có nhiều
núi gọi là miền gồ ghề, và
bên Ðông bằng phẳng gọi là đồng
bằng Si-li-si. Thủ đô là Tạt-sơ, nơi
Phao-lô ra đời (Công vụ các sứ đồ 21:39;
22:3; 23:34). Si-li-si là một phần của nước
Sy-ri, và năm 148-7 T.C., Ðê-mô-triu II lên
bộ xứ đó và tự lập làm vua Sy-ri, dân
sự đông đúc cũng chịu vua đó. Người
Do-Thái ở Si-li-si bàn luận với Ê-tiên
(Công vụ các sứ đồ 6:9). Tin Lành được
giảng tại đó rất sớm (15:23), mà Phao-lô
đã khởi gieo giống (9:30; Ga-la-ti 1:21). Sau
đó Phao-lô ghé qua làm vững vàng Hội
Thánh đã được lập nên (Công vụ các sứ
đồ 15:41). Khi Phao-lô bị giải làm tù sang
thành La-mã, thì Sứ đồ vượt biển
Si-li-si (27:5).
Si-si-lơ (Sycily)
Một hòn đảo nằm ở
đầu nước Ý. Phao-lô đã dừng lại tại
đây trong cuộc hành trình cuối cùng của
ông đi đến Rô-ma.
Si-lô (Shiloh)
Si-lô là một trong các nơi thánh
sớm nhứt của người Hê-bơ-rơ. Hòm giao
ước đã giữ lại ở Ghinh-ganh trong kỳ
chinh chiến tấn tới (Giô-suê 18:1),
được từ đó dời đi khi dân xứ Ca-na-an
đã chinh phục, tới Si-lô và ở đó từ
cuối đời Giô-suê cho đến đời
Sa-mu-ên độ 300 năm (Giô-suê 18:10; Các
quan xét 18:31; I Sa-mu-ên 4:3). Tại đây,
Giô-suê dùng thăm mà chia đất ở tả ngạn
sông Giô-đanh ra từng phần (Giô-suê
19:51). Trong sự phân chia đó, Si-lô thuộc
Ép-ra-im (Giô-suê 16:5). Vào hồi người
Bên-gia-min bị ngăm đe tuyệt diệt,
xảy ra việc những con gái của Si-lô,
theo lễ hằng năm của Ðức Giê-hô-va, đi
ra nhảy múa, thì nhơn đó người
Bên-gia-min có dịp bắt những gái trẻ đó
về làm vợ (Các quan xét 21:19-23). Ði
bộ chừng 15 phút thì thấy một suối nước,
muốn tới phải qua một trũng hẹp; nước
đó chảy vào giếng, rồi từ đó tới
hồ chứa để bầy chiên và đàn bò có
thể uống. Chắc các con gái đã tới
đây, và các khán giả đứng từ trên các
núi cao có thể thấy những gái trẻ
nhảy múa. Dầu cảnh thì không đáng chú
ý, song địa thế ở riêng biệt
rất thích hợp với sự thờ phượng và sự
học hỏi về tôn giáo. Tại đây, có
những mộ bằng đá đẽo chắc đó để
những hài cốt của mấy người nhà Hê-li.
Tại đây, Hê-li đoán xét Y-sơ-ra-ên và
chết vì buồn khi mất hòm giao ước.
Cũng là nơi An-ne cầu nguyện và
Sa-mu-ên được lập trong Hội mạc và
được kêu gọi hành chức tiên tri (I
Sa-mu-ên 1:; 2:; 3:). Những cách cư xử vô
đạo của các con Hê-li khiến cho mất
hòm giao ước khi đem ra trận chống với
người Phi-li-tin, và Si-lô từ đó không
có giá trị nữa. Si-lô trong lịch sử
Do-thái là một thí dụ rõ ràng về sự
phẫn nộ của Chúa (Giê-rê-mi 7:12).
Si-lô-ê (Shiloah hoặc Siloam)
Trong Nê-hê-mi 3:15 là
"ao Si-lô-ê"; Ê-sai 8:6 "dòng
nước Si-lô-ê," và Giăng 9:7-11 là
"ao Si-lô-ê." Nay là Silwan theo
tiếng A-rạp. Các ao khác không còn giữ
tên chép trong Kinh Thánh duy chỉ có tên
Si-lô-ê mà thôi. y là một hồ xây
cất rất đều, gần cửa Giếng, có
cái thang từ thành Ða-vít xuống, gần bên
vườn vua, v.v... (xem Nê-hê-mi 12:37; 3:15).
Josèphe viết ao Si-lô-ê ở đầu trũng
Tyropoeon, ngoài tường thành, nơi uống cong
về phía Ðông và đối mặt đồi trên
đó có hòn đá Peristereon về phía
Ðông. Làng lân cận Keff-Silwan ở bên kia
trũng Kít-rôn cũng còn giữ tên Si-lô-ê.
Silwan ở đầu cực Nam núi của Ðền
thờ, gọi là "Ô-phên." Ao nầy
một phần đục trong đá, một phần xây
bằng gạch, dài độ 16 thước, rộng 5
thước rưỡi, sâu 5 thước 80 phân. Có
từng bậc xuống đến tận đáy. Có
những trụ ở tường xung quanh. Nước từ
đó đi qua bởi một kinh đục trong đá,
một phần lần trong đá, chảy vào những
vườn dưới là nơi có ao dưới, hoặc
gọi là "ao của vua" (Nê-hê-mi
2:14). Suối nữ đồng trinh ở trên có liên
lạc bởi một cống dẫn nước dài 530 thước
đục trong đá, với một hồ chứa nước,
tức một bể hình bầu dục, dần dần bớt
từ 5 thước đến 1 thước cho đến
vào một hang đá bởi một đường đục
hình vòng cánh cung. Năm 1880 S.C., một
thanh niên có tìm trên tường hang đá
nhơn tạo đó 6 hàng chữ tiếng
Hê-bơ-rơ từ thời vua A-háp hay vua
Ê-xê-chia mô tả cách các người phu đục
đá từ ngoài hai đầu đục vào cho
đến khi gặp nhau ở giữa; và ngày đó
nước từ suối Nữ đồng trinh chảy xuống
tới ao Si-lô-ê, v.v.... Vậy, người ta tin
rằng cống dẫn nước đó là công trình
của vua Ê-xê-chia trị vì 726 đến 697
T.C. vì II Các vua 20:20 chép "cuộc xây
hồ chứa nước, và kinh dẫn nước."
Trong Giăng 9:7, nguyên văn Kolumbéthran tức
ao, tỏ ra một ao để bơi lội. Rabbin
Ishmael nói rằng xưa thầy cả thượng phẩm
thường nhảy xuống suối Nữ đồng trinh
tắm.Nhằm
"ngày sau cùng là ngày trọng
thể trong kỳ lễ" Lều tạm, một
người Lê-vi được sai đến Si-lô-ê
tay cầm một bình bằng vàng. Người múc
nước ở dưới ao và đổ trên của lễ
để kỷ niệm về nước tại
Rê-phi-đim. Chúa Jêsus có ngụ ý
đến việc đó, khi Ngài đứng trong
đền thờ mà kêu lên rằng:
"Nếu người nào khát, hãy đến
cùng ta mà uống, v.v..." (Giăng
7:37-39). Ngài sai người mù đi rửa đất
sét khỏi mắt mình tại ao Si-lô-ê, nghĩa
là "sai đi," và người đó trở
về thấy được. Mê-si là "Ðấng
được sai đến" (Lu-ca 4:18; Giăng
10:36) hiệp với hình bóng nước ao
Si-lô-ê được sai đến (Gióp 5:10;
Ê-xê-chi-ên 31:4) chữa lành. Nước đó
chảy êm dịu, mềm mại và chữa lành,
làm cho đất màu mỡ và tốt đẹp, không
đục như nước khe Kít-rôn mùa Ðông chảy
ồn ào, cũng không giống nước sông
Ơ-phơ-rát chảy xiết lôi cuốn và hủy
hại mọi sự ở trước mình (hình bóng
về A-sy-ri), song chảy len lỏi cách yên
lặng trong sự được sai đi ban phước
(Ê-sai 8:6; 42:1-4; 40:11; II Cô-rinh-tô
10:1). Si-lô-ê được gọi vậy từ sự
sai nước để làm mát mẻ vườn ở
dưới, ngày nay vẫn là nơi xanh tươi nhứt
của Giê-ru-sa-lem và rất nhiều ô-li-ve,
vả, và lựu. Nước nầy dùng cho tro của con
bò sắc hoe cũng lấy từ ao Si-lô-ê. Trong
Si-lô-ê, có lẽ như đã nói ở trên,
Ê-xê-chia đã dẫn một cống xuống trũng
Tyropoeon những dòng nước ở phía bên kia
thành khi "người lấy nguồn trên của
nước Ghi-ôn, và dẫn nó chảy ngầm dưới
đất qua phía Tây của thành Ða-vít (II Sử
ký 32:30).
Làng Si-lô-ê là
làng Keff Silwan ở chơn đỉnh thứ ba núi
Ô-li-ve, tại nơi Sa-lô-môn xây các
đền cho Kê-mốt, Át-tạt-tê, và
Minh-côm; "núi của sự gớm
ghiếc." Tại phía Ðông
Giê-ru-sa-lem những hài cốt ở bên tay phải
tức ở phía Nam núi gọi là, theo bản
Vulgate, "núi của sự mất lòng" (I
Các vua 11:7; II Các vua 23:13).
Tháp Si-lô-ê. Xem
Lu-ca 13:4. Có lẽ liên lạc với "vách
ngăn của ao Si-lô-ê gần bên vườn
vua" (Nê-hê-mi 3:15), và theo Josèphe,
ở chỗ tường uốn cong về phía Nam
trên dòng nước Si-lô-ê, có lẽ là một
tháp. Giô-tham "xây nhiều trên
tường thành Ô-phên" (II Sử ký
27:3); và Ma-na-se "xây vách chung quanh
Ô-phên" (II Sử ký 33:14); và một
"tháp ló ra" (Nê-hê-mi 3:26), như
vậy, tháp đó dễ sụp xuống.
Si-mê-ôn (Simeon)
Con của Gia-cốp và
Lê-a (Sáng thế ký 29:33). Có người
nói: Si-mê-ôn đối đãi với Giô-sép ác
hơn các anh em mình, nên ngày sau bị
Giô-sép giữ lại làm tin để tỏ ý
sửa phạt (Sáng thế ký 37:20; 42:24;
43:23). Si-mê-ôn và Lê-vi ghét dân thành
Si-chem vì cớ em gái mình là nàng Ði-na
(Sáng thế ký 34:1-29). Khi gần qua
đời, Gia-cốp có nói tiên tri về hai
dòng đó sẽ phải rủa sả, và ở tản các
nơi (Sáng thế ký 34:30; 49:5-7).Các chi họ tự Si-mê-ôn
được kể ra (Sáng thế ký 46:10;
Dân số ký 26:12-14; I Sử ký
4:24-43). Khi tu bộ dân sự tại núi Si-na-i
mọi người trong chi phái Si-mê-ôn số
là 59.300 người (Dân số ký 1:23); ấy
là chi phái đông nhứt bấy giờ sau Giu-đa
và Ðan. Tại Si-tim, dân số Si-mê-ôn trở
nên ít hơn hết, số là 22.200 người
(Dân số ký 26:14). Sự chết
nhiều là kết quả một duyên cớ
chính tức sự thờ lạy tại Phê-ô. Sim-ri,
là quan trưởng của tông tộc Si-mê-ôn,
cũng bị giết (25:24). Tội lỗi đã
làm giảm bớt dân số Si-mê-ôn đến
nỗi ở vừa đủ trong một phần đất của
Giu-đa (Giô-suê 19:2-9). Si-mê-ôn là
"phần dân sự còn lại" cùng với
Giu-đa và Bên-gia-min là lực lượng của
Rô-bô-am (I Các vua 12:23). Dầu vậy,
Si-mê-ôn cũng còn khỏe đủ trong đời
Ê-xê-chia, để đánh các trại quân
của dòng dõi Cham, dưới sự chỉ huy của 13
trưởng tộc, chiếm lấy đất và ở thay
vào, tại Ghê-đô "bên phía Ðông của
trũng" (I Sử ký 4:34-43). Vậy, chi
phái Si-mê-ôn ở chỗ của người
Ma-ô-nít, tại đó, ngoài ra còn có dòng
dõi Cham (hoặc người Ai-cập, Cúc, Ca-na-an,
v.v...). Có 500 người Si-mê-ôn dưới
quyền của bốn quan trưởng, con trai
Si-mê-i, tổ chức trận đánh dân A-ma-léc
đã trốn thoát tay Sau-lơ và Ða-vít (I Sử
ký 4:42,43; I Sa-mu-ên 14:48; 15:7; II
Sa-mu-ên 8:12), cho đến các núi xứ
Y-đu-mê, tận diệt hết, và cũng
còn ở đó nhằm niên hiệu chép sách
Sử ký, tức là sau khi ở Ba-by-lôn
về. Môi-se chúc phước cho dân
Y-sơ-ra-ên, bỏ sót Si-mê-ôn (Phục
truyền luật lệ ký 33:), có lẽ
vì cớ tội thờ hình tượng tại Phê-ô,
Si-mê-ôn trong đồng vắng đi ở phía Nam
Hội mạc, với Ru-bên và Gát, con của
Xinh-ba, hầu của Lê-a, mẹ Si-mê-ôn. Người
nữ Ca-na-an, mẹ của Sau-lơ (Sáng thế
ký 46:10), và cha của Sa-phát, con trai
Hô-ri, là thám tử của Si-mê-ôn cử ra
(Dân số ký 13:5), tỏ ra sự tự tiện
kết hôn, nên mới có sự bại hoại của
dân ngoại. Những làng là 18 hay 19 thành
của Si-mê-ôn ở xung quanh Bê-e-Sê-ba, tại
cực nam xứ Do-thái. Si-mê-ôn là chi phái
thứ nhứt được cử ra chúc phước cho dân
trên núi Ga-ri-xim (Phục truyền luật
lệ ký 27:12). Dường như cũng có
ít người Si-mê-ôn ở nước Y-sơ-ra-ên,
phía Bắc, sau khi nước chia làm hai (II Sử
ký 15:9; 34:6). Duy trong sản nghiệp
mà Ðức Chúa Trời hứa ban cho Y-sơ-ra-ên,
thì Si-mê-ôn ở giữa Y-sa-ca và Bên-gia-min
chớ không phải ở bên Giu-đa (Ê-xê-chi-ên
48:24). Cũng xem Khải Huyền 7:7.
Si-miệc-nơ (Smyrna)
Cũng như Ê-phê-sô,
Si-miệc-nơ là thành trọng yếu
ở Tiểu A-si. Thành nầy ở trên bờ
biển Ionie, ở đầu một vịnh ăn sâu
vào nội địa 48 cây số, nên có một hải
cảng rất kín đáo. Ở phía Bắc thành
Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ được Alexandre
le Grand và Antigonus làm cho tăng thêm phần
thẩm mỹ và được gọi là "thành
đẹp đẽ." Nay, Si-miệc-nơ hẳn còn
phồn thịnh, vẫn giữ tên đó, và được
gọi là "Paris ở Ðông
phương," có nền thương mại lớn,
dân số là 200.000 người.Ðạo Chúa Jêsus đầu tiên
lập Hội Thánh tại đó, tức là một trong
bảy Hội Thánh như có chép trong Khải
Huyền 1:11; 2:8-11. Polycarpe chịu tử vì
đạo dưới đời Marc Aurèle năm 167, tức 86
năm sau khi tin Chúa, là giám mục của Hội
Thánh đó, có lẽ là "thiên sứ của
Hội Thánh Si-miệc-nơ." Ðó
hiệp với lời Chúa Jêsus ngụ ý
đến sự bắt bớ. Những thuộc tánh của
"Ðấng chết rồi mà đã sống
lại" sẽ yên ủi Si-miệc-nơ trong
cơn bắt bớ. Người ta tin rằng thần tượng
Dionysus tại Si-miệc-nơ đã bị giết
rồi lại sống; trái với lời phù ngôn giả
dối đó, có danh hiệu của Ðấng Christ,
"Ðấng trước hết và Ðấng sau
cùng" (Khải Huyền 2:8). Sự chết
của Ngài như là cửa sự sống, đối với
dân sự Ngài cũng vậy. Dầu gặp sự
"thử thách," sự "nghèo
khổ", song thật ra hội Si-miệc-nơ
"giàu có" về ơn điển
(trái với Lao-đi-xê giàu có theo mắt mình
và thế gian, song nghèo trước Ðức
Chúa Trời). Những kẻ xưng mình là Do-thái
song thật là "hội quỉ Sa-tan" đã
nói phạm thượng cùng Ðấng Christ là
"Ðấng đã bị treo lên." Khi
Polycarpe, chịu tử vì đạo, các người
Do-thái đó kêu với người ngọai xin
cho thú dữ xé; quan trấn thủ không chịu,
song không thể ngăn cản sự cuồng tín
của quần chúng, để họ trói
Polycarpe vào một cọc; chính những
người Do-thái, tự tay mình chất những
khúc củi thành đống mà thiêu người. Rạp
hát mà Polycarpe bị thiêu ở trên một đồi
ngảnh về hướng Bắc, là rạp hát lớn
nhứt trong Tiểu A-si. Một bức thơ luân
chuyển từ Hội Thánh Si-miệc-nơ mô
tả sự tử vì đạo của Polycarpe thuật lại
rằng: khi người ta giục Polycarpe chối
Chúa, thì người đáp: "Trải 86 năm
tôi đã hầu việc Chúa, và Chúa chẳng
hề làm hại tôi, tôi nỡ nào phạm
thượng với Vua và Cứu Chúa của tôi."
Sa-tan, kẻ kiện cáo, bắt nhiều tín
đồ Hội Thánh Si-miệc-nơ bỏ tù, và
"bị hoạn nạn trong mười ngày,"
là một hạn ngắn (Sáng thế ký
24:55; Dân số ký 11:19); trái lại sự
vui mừng sau được vĩnh viễn (nhiều
tín đồ làm mồi cho thú dữ, và bị
giết thiêu, vì cớ họ không chịu
dâng hương cho các thần của vua); thật là
một sự yên ủi êm dịu vậy. Mười là số
các quyền lực thế gian dấy nghịch
cùng Hội Thánh (Khải Huyền 13:1). Chúa
hứa ban "mũ triều thiên của sự
sống" (so Gia-cơ 1:12), "mũ
triều thiên công bình" (II
Ti-mô-thê 4:8), và "mũ triều thiên
vinh hiển" (I Phi-e-rơ 5:4) cho những
kẻ nào "trung tín cho đến
chết." Chép về mũ triều
thiên của sự sống nhắc lại hết năm
hành chức, theo bia khắc cổ, các thầy
tế lễ tại Si-miệc-nơ thường nhận
một mũ như thế.
Si-miệc-nơ nghĩa
là "một dược," khi bị tán ép
đến chết thì tỏa ra mùi hương
thơm. Sự trung tín của hội Si-miệc-nơ
được thưởng vì chơn đèn không bị cất
đi, nên người Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay
gọi là "Si-miệc-nơ bất
trung." Chỉ hai hội Si-miệc-nơ và
Phi-la-đen-phi không bị Chúa quở trách.
Sim-rôn (Shimron)
Một thành ở trên địa
giới Sa-bu-lôn (Giô-suê 11:1; 19:15). Có
người tưởng nay là Semunieh cách xa
Na-xa-rét phía Tây 8 cây số.
Sim-rôn Mê-rôn (Shimron Meron hoặc
Shimronmeron)
Sin (Sin hoặc Pelusium)
Một thành của xứ
Ai-cập, chỉ nói đến trong Ê-xê-chi-ên
30:15,16. Tên nầy bằng tiếng Hê-bơ-rơ,
hoặc ít nhứt, tiếng dòng Sem, có lẽ
nghĩa là "đất sét". Trong bản
Vulgate gọi là Pelusium, là "chìa
khóa của xứ Ai-cập", vì có đồn lũy
vững bền mà một cơ binh từ phía Ðông
bắc phải chiếm lấy trước khi có
thể vào xứ Ai-cập. Ðồn lũy nầy còn
vững cho đến thời đế quốc La-mã.
Hérodotus thuật rằng San-chê-ríp tiến
đánh Pelusium, và gần đó, Cambyses đánh
bại Psammenitus. Ochus, vua A-sy-ri, đánh bại
vua thổ dân cuối cùng là Nectanebos cũng
như vậy.Ðồng
vắng Sin.
Một đồng vắng mà
dân Y-sơ-ra-ên đã tới sau khi dời trại
quân gần Biển Ðỏ mà đi (Dân số
ký 33:11,12). Nơi Y-sơ-ra-ên trú ngụ
sau đó (Xuất Ê-díp-tô ký 16:1; 17:1)
là Rê-phi-đim, có lẽ là Wady-Feirân (xem
bài Rê-phi-đim), và theo sau đó, chắc Sin
ở giữa dòng nước ấy và bờ vịnh Suez, và
lẽ tự nhiên ở phía Tây núi Si-na-i. Tại
Ðồng vắng Sin dân sự lượm ma-na lần thứ
nhứt; vậy ai nhận thuyết lý ma-na
chỉ là vật tự nhiên sản xuất từ bụi
tarfa, thì thấy như thứ cây đó mọc
nhiều lắm ở Wady es-Sheikh.
Si-na-i (Sinai)
Tên nầy có lẽ ra từ
một gốc có nghĩa là "chiếu
sáng" bằng tiếng Sy-ri, và trong
tiếng Ba-by-lôn có danh từ Sinu là mặt
trăng. Ðồng vắng Sin (Xuất Ê-díp-tô
ký 16:1; 17:1; Dân số ký 33:11) ở
giữa núi Si-na-i và kênh Suez, và chắc đã
đặt tên theo "ánh sáng rực rỡ"
của phần trắng núi đó. Song tại núi
Si-na-i, "cảnh trạng của sự vinh quang
Ðức Giê-hô-va nơi đỉnh núi; trước mặt
dân Y-sơ-ra-ên khác nào như đám lửa
hừng (Xuất Ê-díp-tô ký 24:17); thấy
vậy, sự vinh quang của Ðức Giê-hô-va cứ
nhuộm những mỏm núi Jebel Musa (trên chữ u
có dấu ^) (núi Môi-se) bằng màu đỏ như
lửa, phản chiếu từ thứ đá hồng sa,
rất lâu trước khi bóng ngã trên đồng
bằng phía dưới. Trong Cựu Ước, Si-na-i
được nói đến như là đồng vắng và
núi 35 lần. Trong 17 câu, chính đồng vắng
và núi đó được gọi là
"Hô-rếp" hoặc "hoang
vu". Trong các sách khác Ngũ Kinh,
ngoài Phục truyền luật lệ ký,
Si-na-i là tên thường dùng, dầu cũng chép
tên Hô-rếp (Xuất Ê-díp-tô ký 3:1;
17:6), chỉ về cả "Núi của Ðức
Chúa Trời" và đồng vắng Rê-phi-đim,
chừng 32 cây số ở phía Tây Bắc.Môi-se chạy trốn đến
Ma-đi-an (hoặc "xứ trống không")
ở phía Ðông bán đảo Si-na-i (Dân số
ký 22:4,7; 25:; 31), và khi Môi-se chăn
bầy đến núi Hô-rếp (Xuất
Ê-díp-tô ký 3:1), thì đến phía
Tây của đồng vắng. Theo Phục truyền
luật lệ ký 1:2, thấy từ Hô-rếp
đến Ca-đe Ba-nê-a, bởi đường núi |