Kê-ba (Chebar)
Tên một con sông
"trong đất người Canh-đê", phát
nguyên từ phía Bắc xứ Mê-sô-bô-ta-mi,
rồi chảy về phía Nam đến sông
Ơ-phơ-rát. Vua Ba-by-lôn bắt dân Giu-đa
làm phu tù và để ở tại hai giải đất
trên sông nầy. Ê-xê-chi-ên thấy sự
hiện thấy đầu tiên tại đó
(Ê-xê-chi-ên 1:1; 3:15, 23; 10:15, 20). Có
lẽ cũng là một với sông Cha-bô, sông của
Gô-xan; người A-sy-ri đem những phu tù
Y-sơ-ra-ên tới đó (II Các vua 17:6).
y chỉ là phỏng đoán thôi. Có lẽ
Kê-ba của Ê-xê-chi-ên là Nahr malcha, hay
Kênh lớn của vua Nê-bu-cát-nết-sa, lớn
nhứt xứ Mê-sô-bô-ta-mi (Chabeer nghĩa là
lớn). Chính các phu tù phải đào Kênh
đó.
Kê-hê-la-tha (Kehelathah)
Một nơi trong đồng
vắng mà dân Y-sơ-ra-ên đóng trại (Dân
số ký 33:22-23).
Kê-i-la (Keilah)
Một thành vững chắc ở
vùng đồng bằng xứ Giu-đa(Giô-suê 15:44; I
Sử ký 4:19), được biết đến
nay là Qila, cách Hếp-rôn khoảng 8 dặm
về phía Tây Bắc và cách Giê-ru-sa-lem
18 dặm về phía Tây Nam. . Người
Phi-li-tin xông hãm thành đó song Ða-vít
giải cứu. Dầu vậy, Ða-vít không ở trong
thành khi Sau-lơ đến gần, sợ những
người trong thành nộp mình cho Sau-lơ (I
Sa-mu-ên 23:1-13). Thành được xây bởi
những phu tù bị lưu đày trở về
(Nê-hê-mi 3:17-18).
Kê-nát (Kenath)
Một trong những thành
ở phía Ðông bắc sông Giô-đanh với các
"thành địa hạt" mình. Khi
Giô-bách chiếm lấy thì đặt tên mình
cho (Dân số ký 32:42). Song danh đó chỉ
tạm thời mà thôi, vì dân ngoại bang
chiếm lấy lần nữa (I Sử ký 2:23).
Người A-rạp thắng hơn Hê-rốt Lớn tại
đó. Hiện nay còn dấu tích lớn lao có
tên là Kanawat.
Kê-đe (Kadesh)
Quê hương của Ba-rác,
cũng là nơi người của chi phái Nép-ta-li
và chi phái Sa-bu-lôn họp lại để
chống lại đạo binh của Gia-bin, vua Hát-so.
Có thể đây cũng là Kê-đe (Na-na-an)
hay là một nơi cách phía Nam của
Ti-bê-ri-át khoảng 3 dặm (5 km), ở phía
dưới xứ Ga-li-lê (Các Quan-xét 4:6).
Kê-đê-mốt (Kedemoth)
Một thành ở phía
Ðông sông Giô-đanh, gần đồng vắng (Phục
truyền luật lệ ký 2:26), được
chia cho chi phái Ru-bên (Giô-suê 13:18), và
làm nơi ở cho người Lê-vi, con cháu
Mê-ra-ri (Giô-suê 21:37; I Sử ký 6:79).
Hiện nay không biết ở đâu.
Kê-pha A-mô-nai (Kephar Ammoni hoặc
Chepharhaammonai)
Một làng trong địa
phận của chi phái Bên-gia-min (Giô-suê
18:24).
Kê-ri-giốt (Kerioth)
Là một thành kiên cố
ở trong xứ Mô-áp, có lẽ là El-Qereiyat,
cách phía Ðông Nam của A-ta-rốt chừng 3
dặm (5 km). Mặc dù một vài người cho rằng
thành nầy đồng nhất với A-mô-áp trong xứ
Mô-áp. Theo tiên tri A-mốt, thành nầy là
trung tâm thờ cúng của Chemosh (Giê-rê-mi
48:24; A-mốt 2:2).
Kê-ri-giốt Hết-rôn (Kerioth
Hezron)
Một thành ở miền
Nam xứ Giu-đa. Có thể thành nầy nằm
gần A-rát, ở cách Hếp-rôn về phía
Nam chừng 10 dặm (16 km). Cũng là Hát-so
(Giô-suê 15:25). Cũng là Kê-ri-giốt
Hết-rôn trong bảng KJV.
Kê-rít (Cherith)
Một khe hay là Wady mà
tiên tri Ê-li ẩn mình trong buổi đầu của
ba năm hạn hán (I Các vua 17:3, 5). Người
ta tưởng ở phía Ðông sông Giô-đanh.
Kê-rúp (Kerub hoặc Cherub)
Dường như một nơi ở
Ba-by-lôn mà có người không rõ thuộc
về tông tộc nào cùng Xô-rô-ba-bên
về xứ Giu-đa (E-xơ-ra 2:59; Nê-hê-mi
7:61).
Kê-sa-lôn (Kesalon hoặc Chesalon)
Một thành trên giới
hạn thuộc chi phái Giu-đa trên núi
Giê-a-rim (Giô-suê 15:10), thường kể
là một với làng Kesla ngày nay, độ 15 cây
số cách phía Tây Giê-ru-sa-lem.
Kê-sinh (Kesil hoặc Chesil)
Một thành ở phía cực
nam xứ Pha-lê-tin (Giô-suê 15:30). Trong
Giô-suê 19:4, cũng đặt tên là Bê-thu,
nên chắc Kê-sinh là tên cũ.
Kê-su-lốt (Chesulloth hoặc
Kesulloth)
Một thành trên giới
hạn chi phái Y-sa-ca (Giô-suê 19:18). Có lẽ
là Kít-lốt-Tha-bô.
Kê-xíp (Kezib)
Có lẽ cũng là một
hình thức luân phiên của c-xíp
(Sáng-thế Ký 38:5).
Kiệt Ha-rê-sết (Kir Hareseth hoặc
Kirharesh)
Trong II Các vua 3:25,
gọi tên nầy, song trong Ê-sai 16:11 và
Giê-rê-mi 48:31 gọi là Kiệt-Hê-re.
Hai tên nầy chỉ về một nơi, chắc là
Kiệt-Mô-áp.
Kiệt Mô-áp (Kir Moab)
Một đồn lũy rất lớn
của dân Mô-áp, còn có A-mô-áp là thủ
đô. Trong Ê-sai 15:1, có chép hai tên đó.
Có lẽ chỉ về Kiệt-Hê-re và
Kiệt-Ha-rê-sết, v.v.... Gần đúng
với tên Kérak là một thị trấn quan hệ
có địa vị cao và mạnh, ở phía Ðông nam
biển Chết ngày nay. Nơi đó thật
đáng chú ý vì xây trên một đỉnh
đồi rất dốc, xung quanh có trũng sâu và
hẹp, lại có các núi cao hơn thành bao
bọc, và che chở thành khắp mọi
mặt.
Kiệt-hê-re (Kirheres)
Ki-na (Kinah)
Một thành ở phía Nam
chi phái Giu-đa, gần về phía ranh
Ê-đôm (Giô-suê 15:22). Sau khi chiếm
thành Giê-ri-cô, thì con cháu Kê-nít lập
thành nầy (Các quan xét 1:16).
Ki-nê-rết (Chinnereth hoặc
Chinneroth hoặc Kinnereth)
Cũng gọi là
Ki-nê-rốt (I Các vua 15:20) có nghĩa là
đờn cầm.I.
Một thành có đồn lũy của Nép-ta-li
(Giô-suê 19:35). So Phục truyền luật
lệ ký 3:17.
II. Miền xung
quanh thành Ki-nê-rết (I Các vua 15:20;
so Giô-suê 11:2), thường kể là một
với đồng bằng Ghê-nê-xa-rết (Ma-thi-ơ
14:34).
III. Một hố lớn gần
thành kể trên, thuộc miền
Ki-nê-rết (Dân số ký 34:11;
Giô-suê 12:3; 13:27; I Các vua 15:20). Sau
gọi là hồ Ghê-nê-xa-rết (Lu-ca
5:1), biển Ga-li-lê hoặc Ti-bê-ri-át
(Giăng 6:1).
Ki-nê-rốt (Cinneroth)
Ki-đôn (Kidon hoặc Chidon)
Tên một sân đạp lúa,
tại đó U-xa đã bị đánh chết vì giơ
tay ra nắm lấy hòm (I Sử ký 13:9). Trong
I Sa-mu-ên 6:6 gọi là Na-côn. Không
biết đúng ở đâu.
Kíp-lốt-tha-bô (Chislothtabor)
Một thành ở miền
thấp núi Tha-bô trên địa phận chi phái
Sa-bu-lôn (Giô-suê 19:12), có lẽ cũng là
một với Kê-su-lốt, một thành trên địa
phận Y-sa-ca (câu 18). Eusèbe nói là một
làng tên là Chasalus ở miền đồng bằng
gần núi Tha-bô.
Kíp-rốt Ha-tha-va (Ibroth Hattaavah hoặc
Kibrothhattaavah)
Nơi dân Y-sơ-ra-ên
đóng trại trong đồng vắng, cách xa đồng
vắng Si-na-i chừng một ngày đường. Tại
đó dân sự đòi ăn thịt, và Chúa
khiến một trận gió dẫn chim cút
đến, bởi đó có tai vạ hành hại dân
sự, nên mới đặt tên chỗ đó như vậy
(Dân số ký 11:34; 33:16; Phục truyền
luật lệ ký 9:22).
Kíp-sa-im (Kibzaim)
Xem bài Giốc-mê-am
(Giô-suê 21:22).
Ki-ri-a-ba-anh (Kirjathbaal)
Ki-ri-a-ta-im (Kiriathaim hoặc
Kirjathaim)
Một đồng bằng ở sông
Giô-đanh, nằm gần thành Ki-ri-a-ta-im trong
xứ Mô-áp. Vua Kết-rô-lao-me đã đánh
bại dân Ê-mim ở trong đồng bằng nầy
(Sáng-thế Ký 14:5).
Ki-ri-át (Kiriath)
Một thành của
Bên-gia-min, có khi gọi là Ki-ri-át
Giê-a-rim (Giô-suê 18:28).
Ki-ri-át A-ra-ba (Kiriath Arba hoặc
Kirjatharba)
Tên cũ của thành
Hếp-rôn chỉ về thành của A-ra-ba
là người giềng giàng hơn hết trong
dân A-na-kim, cha A-nác (Sáng thế ký
23:2; Giô-suê 14:15; 15:13, 54; 20:7; 21:11;
Các quan xét 1:10).
Ki-ri-át Ba-anh (Kiriath Baal hoặc
Kiriathbaal)
Tên lúc đầu của
Ki-ri-át Giê-a-rim (Giô-suê 15:60; Giô-suê
18:14). Cũng là Ki-ri-át Ba-anh trong bảng
KJV.
Ki-ri-át Ghê-a-rim (Kiriath Jearim hoặc
Kirjathjearim)
Nó vốn là chỗ của
người Ga-ba-ôn ở (Giô-suê 9:17; 15:9, 10,
60), và thuộc về chi phái Giu-đa ở
về biên giới Bên-gia-min (Giô-suê
18:14), cách thành Giê-ru-sa-lem hơn 16 cây
số. Hòm giao ước của Chúa để tại
thành nầy 20 năm cho tới tận ngày vua
Ða-vít rước về Giê-ru-sa-lem (I
Sa-mu-ên 6:19-7:2; II Sa-mu-ên 6:2). Có vài
người trong vòng dân bị bắt làm phu tù
sau trở về (Nê-hê-mi 7:29); và trong
E-xơ-ra 2:25 gọi là Ki-ri-át A-rim. Trong
Giô-suê 15:60; 18:14, gọi là Ki-ri-át
Ba-anh; 15:9, 11 gọi là Ba-la trong II
Sa-mu-ên 6:2 gọi là Ba-lê, trong I Sử
ký 13:6, Ba-a-la.
Ki-ri-át Hút-sốt (Kiriath Huzoth hoặc
Kiriathhuzoth)
Một thành không nhận
biết được ở trong xứ Mô-áp, Ba-rác
đã đi cùng với Ba-la-am đến nơi
đây. Có thể thành nầy ở gần Ba-mốt
Ba-anh. Và cũng có thể chính là
Ki-ri-át Ta-im hoặc Kê-ri-giốt (Dân-số
Ký 22:39). Cũng là Ki-ri-át Hút-sốt
trong bảng KJV.
Ki-ri-át Sa-na (Kiriath Sannah)
Một thành ở miền
đồi xứ Giu-đa, được chia cho người
Lê-vi. Cũng là Ðê-bia và Ki-ri-át Sê-pha
(Giô-suê 15:49). Cũng là Ki-ri-át Sa-na
trong bảng KJV.
Ki-ri-át Sê-pha (Kiriath Sepher hoặc
Kiriathsepher)
Tên cũ của thành
Ðê-bia, được dùng trong Giô-suê 15:15-16;
Các Quan-xét 1:11-12 (Giô-suê 15:15-16; Các
Quan-xét 1:11-12). Cũng xem Ki-ri-át Sa-na.
Ki-rơ (Kir)
Từ nơi nầy, người
A-ram đến xứ Sy-ri (A-mốt 9:7), và sau
khi bị làm phu tù tại Ða-mách thì người
A-sy-ri cho trở về (II Các vua 16:9;
A-mốt 1:5). Trong Ê-sai 22:6, thấy Ki-rơ với
Ê-lam nghịch cùng Giu-đa. Không biết
chắc nơi nầy ở đâu.
Ki-si-ôn (Kishion)
Một thành trên giới
hạn Y-sa-ca (Giô-suê 19:20), cấp cho người
Lê-vi, họ Ghẹt-sôn (21:28). Trong I Sử
ký 6:72, chép Kê-đe thay tên đó, có
lẽ vì cớ người chép sai. Không biết
đúng ở nơi nào.
Ki-sôn (Kishon)
Là sông rất quan
hệ trong xứ Pha-lê-tin sau sông
Giô-đanh. Trong Kinh Thánh gọi là một
khe nước (Các quan xét 4:7; Thi Thiên 38:9).
Nó phát nguyên từ chỗ gần núi Tha-bô,
rồi chảy qua đồng bằng Giu-đa. Khe Ki-sôn
dài độ 40 cây số nước rất đắng. Khi
nước lên to thì chảy vọt mạnh lắm:
người và súc vật thường gặp nạn
chết chìm (Các quan xét 5:19, 21).
Si-sê-ra đánh với Quan xét Ba-rác ở bên
khe nầy, bị nước kéo trôi chết cả
đạo binh (Các quan xét 4:13-16; Thi Thiên
83:9). Ê-li giết các tiên tri của Ba-anh
ở bờ khe Ki-sôn (I Các vua 18:40). Ngày 16
tháng IV năm 1799, tại đây đạo binh
người Thổ-nhĩ-kỳ và A-rạp cũng bị chung
số phận với đạo binh Si-sê-ra, khi chống
nhau với đạo binh Pháp. Khi nào nước đầy
tràn thì chảy vào Ðịa-trung-hải bởi cửa
biển Jaffa, gần núi Cạt-mên.
Kít-lít (Kithlith hoặc Kitlish
hoặc Chitlish)
Một làng ở miền
đồng bằng xứ Giu-đa (Giô-suê 15:40).
Kít-lốt Tha-bô (Kisloth Tabor)
Một thành ở miền
thấp núi Tha-bô trên địa phận chi phái
Sa-bu-lôn (Giô-suê 19:12), có lẽ cũng là
một với Kê-su-lốt, một thành trên địa
phận Y-sa-ca (câu 18). Eusèbe nói là một
làng tên là Chasalus ở miền đồng bằng
gần núi Tha-bô.
Kít-rôn (Kitron)
Một thành trong địa
phận của người Sa-bu-lôn mà người
Ca-na-an bị đuổi ra (Các quan xét 1:30). Có
lẽ là một với thành Cát-tát (Giô-suê
19:15).
Kít-tim (Kittim hoặc Chittim)
Trong Sáng thế
ký 10:4, Kít-tim chỉ về dòng dõi
của Gia-van, bởi đó chỉ về nòi giống
La-tinh và Hy-lạp, đất của họ chạy
dài theo bờ biển Ðịa Trung Hải, kể
cả những cù lao nữa. Bên cạnh Kít-tim,
còn nói đến Ê-li-sa Ta-rê-si và
Ðô-đa-nim (trong I Sử ký 1:7 là
Rô-đa-nim), thường coi như là đảo Sicile,
miền Nam xứ Ý-đại-lợi, Tây-ban-nha và
Rô-đơ. Theo nghĩa hẹp, Kít-tim chỉ về
đảo Chíp-rơ nói đến giữa Ba-san
(Pha-lê-tin), và đảo Ê-li-sa trong
Ê-xê-chi-ên 27:6-7 và Ê-sai 23:1, 12,
Kít-tim trong các đoạn sách nầy là ở
giữa Ta-rê-si, Ty-rơ và Si-đôn.Theo sự giải nghĩa của
Josèphe thì ấy là hết thảy các hòn
đảo và một phần lục địa ở trên bờ
biển mà người Hê-bơ-rơ gọi là
Chethim (Kít-tim), quan niệm các học
giả đồng thời ông cũng tin như vậy. Trong
Giê-rê-mi 2:10 và Ê-xê-chi-ên 27:6, các
đảo của Kít-tim nói đến cách rõ
ràng, điều nầy cũng chứng quyết
sự giải nghĩa rộng của Josèphe về tên
nầy. Cũng có thể ứng dụng vào
chiến thuyền của dân La-mã trong
Ða-ni-ên 11:30 đi đến để gặp vua
phương Bắc.
Tên Kít-tim có liên
quan với Chíp-rơ, bởi tên Kition là một
thành cổ ở phía Nam đảo, và theo vua
Thothmes III (thế kỷ XVI T.C.), thì
người Kiti là chủ của hòn đảo đó.
Kít-tim thường nói đến trong
Kinh Thánh, Ba-la-am nói trước về một
chiến thuyền sẽ từ đó mà đến
phá A-sy-ri, theo Ê-sai 23:1, 12, dường như
chiến thuyền nầy từ Ty-rơ mà
đến. Còn Giê-rê-mi 2:10 "các cù
lao Kít-tim" ở phía Viễn-đông, như
Kê-đa ở phía Ðông xứ Pha-lê-tin, người
Ty-rơ lấy gỗ bá hương và các hộp
gỗ ở đó, gỗ đó cẩn ngà voi, làm
ván lợp tàu (Ê-xê-chi-ên 27:6). Dường
như Alexandre le Grand cũng đến từ xứ
Kít-tim, và người Ba-tư và vua của Citims.
Theo sử gia Josèphe
kể Chíp-rơ là nơi căn bản của
Kít-tim, thêm một lẽ nữa: thủ dô là
Citium. Citium là một thành Phê-ni-xi. Từ
thành nầy, người Phê-ni-xi chiếm lấy
cả đảo làm thuộc địa. Trước Kít-tim
chỉ về người Phê-ni-xi thôi, sau
kể gồm những nơi họ chiếm cứ,
và bởi đó, cũng chỉ về những dân sự
kế tiếp người Phê-ni-xi mà
chiếm giữ các đảo đó. Nên trong sách
Macchabées, Kít-tim là xứ Ma-xê-đoan.
|