Ca-bê-na-um (Capernaum)

    Một thành gần phía tây bắc biển Ga-li-lê. Trong khoảng Chúa Jêsus khởi làm chức vụ, thấy người Na-xa-rét chán bỏ Ngài, Ngài bèn đến ở tại thành nầy. Rồi lấy đó làm quê hương, Ngài thường lui, tới, đi, về trong khi còn ở thế gian. Phi-e-rơ và Anh-rê cũng ở đó (Ma-thi-ơ 4:13; Giăng 2:12; Mác 1:21-29). Chúa Jêsus ở thành nầy, hằng vào nhà hội dạy dỗ công chúng (Mác 1:21; Lu-ca 4:31; Giăng 6:59), và làm nhiều phép lạ: đuổi quỉ, chữa bịnh (Mác 1:23-2:12; Lu-ca 4:23,33-41; 7:2-10; Ma-thi-ơ 8:5-13, 14-17; 9:1-8; Giăng 4:46-54). Cũng ở Ca-bê-na-um, Chúa Jêsus giảng đạo và ban phát đồ ăn cho năm ngàn người (Mác 9:33-50). Lại cũng ở thành nầy, Ngài đã kêu gọi Ma-thi-ơ tức là Lê-vi là Sứ đồ (Ma-thi-ơ 9:9-13; Mác 2:14-17; Lu-ca 5:27-32).

Ca-bun (Cabul)

    I. Trên bờ cõi của chi phái A-se (Giô-suê 19:27). Hiện nay là Kabul, cách A-cô độ 15 cây số về phía đông.

    II. Là địa hạt mà vua Sa-lô-môn ban cho Hi-ram, vua Ty-rơ, có hai mươi thành, gồm Ca-bun. Vì địa hạt nầy không đẹp lòng mình, nên Hi-ram tâu vua Sa-lô-môn rằng: "Hỡi anh, những thành mà anh cho em đó là cái gì?" và gọi cả địa hạt đó là Ca-bun, nghĩa là "không ra gì hết" (I Các Vua 9:13). Sau đó Hi-ram nhường cho Sa-lô-môn (II Sử ký 8:2). Ðịa hạt nầy là "Xứ Ga-li-lê của dân ngoại" (Ê-sai 8:23), nghĩa là phía bắc xứ Ga-li-lê chỉ một phần có người Y-sơ-ra-ên, nhưng sau khi Hi-ram nhường cho Sa-lô-môn, thì dân Y-sơ-ra-ên ở gần hết địa hạt ấy. Vua Tiếc-la-Phi-lê-se đem dân sự địa hạt nầy sang xứ A-sy-ri (II Các Vua 15:29). Phần nhiều các thành đều thuộc về người Phi-li-tin (II Sa-mu-ên 24:7) và không ra gì.

Ca-in (Cain hoặc Kain)

      Một làng trong miền núi xứ Do-thái (Giô-suê 15:57).

Cạt-ca (Karkaa)

      Một nơi chỉ giới hạn của chi phái Giu-đa về phía nam (Giô-suê 15:3).

Cạt-cô (Karkor)

      Là nơi Xê-bách và Xanh-mu-na với quân binh mình lại bị Ghê-đê-ôn đánh thắng (Các Quan Xét 8:10). Miền đồng vắng có các chi phái phiêu lưu.

Cạt-kê-mít (Carchemish)

      Một thủ đô cổ của thành Hê-tít, nằm trên bờ phía Tây của sông Ơ-phơ-rát ở phía Bắc xứ Sy-ri. Ðế quốc Hê-tít đã rơi vào tay của Sargon II của xứ A-sy-ri vào năm 717 T.C.. Vào năm 605 T.C., Cạt-kê-mít là một vị trí chiến đấu quyết liệt giữa đạo quân Nê-bu-cát-nết-sa và đạo quân Pha-ra-ôn Nê-cô, là đạo quân đang đóng quân tại nơi đây. Ðạo quân của Nê-cô đã rơi vào tay vua Ba-by-lôn. Ngày nay là Jerablus (IISử-ký 35:20; Ê-sai 10:9; Giê-rê-mi 46:2).

Cạt-mên (Carmel)

      I. Một thành trong miền núi xứ Do-thái, cách phía tây nam Hếp-rôn độ 12 cây số (Giô-suê 15:55). Sau-lơ dựng cái bia tại đó để kỷ niệm công mình đánh thắng người A-ma-léc (I Sa-mu-ên 15:12; 25:2; 30:5). Thành nầy tức là chỗ ở của Na-banh, chồng A-bi-ga-in (I Sử ký 3:1). Cũng là quê hương một người mạnh bạo của Ða-vít (II Sa-mu-ên 23:35).

      II. Tên một dãy núi dài độ 12 cây số, ở miền trung ương xứ Ga-li-lê, và là giới hạn về phía nam của chi phái A-se. Chỗ cao nhứt của núi về phía đông nam, được độ 600 thước tây, hiện nay gọi là Jebel Kurmul. Về phía đông bắc núi, có một phần là mõm đất nằm trên biển Ðịa-trung-hải, cao 200 thước, và có sông Ki-sôn chảy ra. Núi nầy đẹp đẽ, sản nhiều ô-li-ve, tùng và dẻ bộp, v.v. (Ê-sai 33:9; 35:2; Nhã Ca 7:5; Giê-rê-mi 50:19; 46:18; Mi-chê 7:14). Có suối trong vắt, tên gọi là Ê-li. Trong núi có nhiều hang, là chỗ ẩn cư của những kẻ tin kính các đạo trong các đời.

      Trước, trên núi có bàn thờ của Chúa nhưng đã bị phá hủy; Ê-li bèn dựng lại. Rồi Ê-li đọ sự thật, giả với các tiên tri của Ba-anh: ông giết họ chết hết (I Các Vua 18:20-40). Tôi tớ của Ê-li, lần thứ bảy lên chót núi, "thấy ở biển lên một cụm mây nhỏ như lòng bàn tay", chỉ về sắp có cơn mưa sau ba năm rưỡi không mưa (I Các Vua 18:41-46). Tiên tri Ê-li-sê cũng thường đến núi nầy (II Các Vua 2:24; 4:25).

      Nhà sử học Tacite chép rằng hoàng đế Vespasien, nước La-mã (69-79 S.C.) có lên núi Cạt-mên để cầu vấn một vị thần không có hình không có đền, "chỉ có một bàn thờ đáng kính trọng làm nơi thánh khiết". Hiện nay trên Cạt-mên có một nhà dòng thuộc về một trong bốn đại hành khất hội của đạo La-mã, gọi là Cạt-mên tu đạo hội (le Carmel) đã thành lập tại xứ Pha-lê-tin trong thế kỷ XII S.C. cho đờn ông, và thế kỷ XIV cho đờn bà (Carmélite). Lời truyền khẩu nói rằng hội nầy nguyên của Ê-li sáng lập, thì thật huyền ảo, không có chứng cớ xác thực gì. Coi thêm bài A-HÁP.

Cạt-ta (Kartah)

      Một thành của chi phái Sa-bu-lôn cấp cho họ Mê-ra-ri, là những người Lê-vi sau chót (Giô-suê 21:34).

Cạt-than (Kartan)

      Một thành của chi phái Nép-ta-li cấp cho người Ghẹt-sôn là người Lê-vi (Giô-suê 21:32). Trong I Sử ký 6:76 là Ki-ri-a-ta-im.

Ca-lách (Calah)

      Một thành cổ được thành lập bởi Nim-rốt, đã bị chiếm làm thuộc địa vào thời tiền sử và đã bị suy tàn trong thời Ham-mu-ra-bi. Nó đã được Shalmaneser I xây dựng lại vào thế kỷ thứ 13 T.C. và sau đó được thay thế cho A-su-rơ như là thủ đô của xứ A-sy-ri trong suốt triều đại của Ashumasirpal II (vào khoảng 883-859 T.C.). Vị trí hiện nay là Nim-rút, phía Nam của Ni-ni-ve chừng 18 dặm (29 km), trên bờ sông phía Ðông của con sông Hi-đê-ke (Sáng-thế Ký 10:11-12).

Ca-lép Ép-ra-tha (Caleb Ephrathah hoặc Calebephrathah)

      Nơi mà Hết-rôn qua đời được ghi lại trong ISử-ký 2:24. Trong bảng dịch RSV đã xem nơi nầy như là hai nhân vật hơn là một vị trí (ISử-ký 2:24).

Ca-na (Cana)

Một thành trong xứ Ga-li-lê là nơi Chúa làm phép lạ thứ nhứt, hóa nước thành rượu (Giăng 2:1-12). Lần sau, có một quan thị vệ đến Ca-na xin Chúa chữa cho con trai mình ở Ca-bê-na-um. Chúa phán: "Hãy đi, con của ngươi sống". Khi quan trở về, thấy con mình đã được lành chính giờ Chúa phán (Cũng xem Giăng 4:46,54). Na-tha-na-ên nguyên ở thành Ca-na (Giăng 21:2) "Chúa xuống" (Giăng 2:12), thì biết Ca-na cao hơn Ca-bê-na-um. Theo lời truyền khẩu ngày nay là Kefr Kenna, cách Na-xa-rét về phía tây bắc 8 cây số.

Ca-na (Kanah)

     
      Một khe nằm một phần giữa xứ Ép-ra-im và Ma-na-se (Giô-suê 16:8; 17:9). Một vài thành của Ma-na-se, nằm phía Nam của khe Ca-na (Giô-suê 16:9). Ngày nay được biết đến là sông Qanah.

Ca-na-an (Canaan)

     
      Xứ Ca-na-an, theo ý nghĩa nó trước chỉ về các miền hạ du giữa sông Giô-đanh với Biển Chết và biển Ðịa-trung-hải, sau chỉ về khắp xứ ấy. Chúa hứa ban xứ nầy cho dòng dõi Áp-ra-ham, tức là con cái Y-sơ-ra-ên (Xuất Ê-díp-tô ký 6:4; Lê vi ký 25:38). Lời Chúa hứa đó là: "Ta cho dòng dõi ngươi xứ nầy, từ sông Ai-cập (Nil) cho đến sông lớn kia, tức sông Ơ-phơ-rát" (Sáng thế ký 15:18-21).

      Theo Kinh Thánh, xứ Ca-na-an làm hình bóng về nơi yên nghỉ trên trời, là cơ nghiệp của tín đồ Chúa (Hê-bơ-rơ 4:1-11). Chúng ta chỉ có thể nhờ Giô-suê ở trên trời là Jêsus, Quan tướng của chúng ta, và nhờ đức tin cho mình thắng thế gian, tội lỗi, xác thịt và ma quỉ, để vào nơi yên nghỉ ấy (I Giăng 4:4; 5:4,5). Trời đất mới (Khải Huyền 21:1) sẽ thuộc về những người giống như Ca-lép và Giô-suê xưa, là những người bởi đức tin bước đi trong thế gian có người vô tín ở.

Ca-ne (Calneh)

     
      Một thành cổ được Nim-rốt thành lập ở trên miền đất của xứ Si-nê-a. Ðịa điểm chính xác của thành nầy ở phía Nam xứ Mê-sô-bô-ta-mi thì không chắc chắn. Một số nhà nghiên cứu tin rằng bảng dịch theo tiếng Hê-bơ-rơ của tên nầy nên đọc như là một thành ngữ "tất cả họ". Có lẽ cũng là Ca-ne được chép trong A-mốt 6:2 và Ca-nô trong Ê-sai 10:9. Cũng xem Ca-nô.

Ca-đe Ba-nê-a (Kadesh Barnea)

     
      Là vị trí của một ốc đảo ở phía Ðông Bắc của bán đảo Si-na-i. Nó tọa lạc ở biên giới phía Nam xứ Pa-lét-tin, tại vùng giao nhau của Su-rơ và con đường phía Bắc đi từ Ê-lát vào trung tâm xứ Pa-lét-tin. Nó đã trở thành điểm đóng trại đầu tiên trên lộ trình ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là nơi mà Ðức Chúa Trời đã xử phạt dân Y-sơ-ra-ên vì cớ sự nổi loạn của họ để họ phải đi lưu lạc trong đồng vắng suốt 40 năm. Nó đồng nhất với vị trí ở Negev, cách Bê-e-sê-ba về phía Tây Nam khoảng 50 dặm (80 km) Ain-el-Qudeirat, là con suối nguyên thủy của nó, dầu Ain-Qedeis giữa tên gốc. Cũng được gọi là Suối Xử đoán (Sáng-thế Ký 14:7; 20:1; Dân-số Ký 13:26; 20; Phục-truyền Luật-lệ Ký 1:2; 1:19; Giô-suê 15:3).

Canh-đê (Chaldea)

     
      I. Xứ Canh-đê.-- Nguyên là tên một xứ trong Châu Á, ở trên bờ vịnh Ba-tư. Chính Canh-đê vốn ở phía đông nam xứ Ba-by-lôn, và Kinh Thánh dùng để chỉ về miền trung châu lớn rộng của hai con sông Ơ-phơ-rát và Hi-đê-ke (Tigre). Trung châu nầy chạy theo bờ hai con sông ấy, dài độ 650 cây số, rộng độ 160 cây. Xưa, nơi nầy chẳng những tiện lợi, song cũng thêm nhiều phép dẫn thủy nhập điền, đến nỗi những thứ ngũ cốc mọc rất nhiều và xanh tốt lạ thường. Người ta nói rằng trong khắp thế gian chỉ có đồng bằng xứ Canh-đê có lúa mì tự nhiên mọc lên không cần phải gieo trồng. Nhà sử học Hérodote viết rằng: Một hạt gieo xuống đất mọc lên, và kết gấp hai trăm, có khi ba trăm hạt. Người ta cũng thường kêu Ba-by-lôn là Canh-đê (Sáng thế ký 11:28,31; II Các Vua 24:2; 25:4-26; Giê-rê-mi 50:9-10; 51:24; Ða-ni-ên 4:7; Nê-hê-mi 9:7; II Sử ký 36:17; Ê-sai 13:19). Khi Ba-by-lôn suy yếu, người Canh-đê lấn vào nội địa, nên Ba-by-lôn và Canh-đê mới trùng tên gọi. Về sau nước đó bị người Mê-đi chiếm được (Ða-ni-ên 5:30,31). Ngày nay xứ Canh-đê hoang vu, ít có dân ở; vậy là ứng nghiệm lời tiên tri trong Giê-rê-mi 50:38,39; 51:42; Ê-sai 14:22,23).

      II. Thành Canh-đê.-- Trong Kinh Thánh, những thành của Canh-đê (Ba-by-lôn). Như Ba-bên, Ê-rết (ngày nay là Warka). A-cát, Ca-ne (Niffer) (Sáng thế ký 10:10), U-rơ (Mugheir), v.v., rất có danh tiếng, lại có nhiều di tích khác mà hiện nay chưa biết xưa là thành nào.

Can-nê (Canneh)

     
      Một thành được đề cập với các thành Ha-ran và Ê-đen trong việc buôn bán của mình với thành Ty-rơ. Có thể cũng là Ca-ne. Một vài người cho rằng vị trí của nó nằm ở bờ biển phía Nam của A-ra-bi, ngày nay là vị trí của Ca-ne (Ê-xê-chi-ên 27:23). Cũng xem Ca-ne.

Ca-nô (Calno)

     
      Một thành được đề cập với thành Cạt-kê-mít trong cuộc chinh phục của A-sy-ri. Có thể cũng là Ca-ne (của Si-nê-a) (Ê-sai 10:9).

Ca-si-phia (Casiphia)

     
      Một thành không biết rõ ở trong Ba-by-lôn, nơi mà E-xơ-ra đã giải thoát người Lê-vi để giúp việc trong đền thờ ở thành Giê-ru-sa-lem (E-xơ-ra 8:17).

Cáp-ba-đốc (Cappadocia)

     
      Một tỉnh ở phía cực đông xứ Tiểu A-si, thuộc nước La-mã. Có nhiều bãi cỏ xanh tốt. Các súc vật như ngựa, lừa, chiên, v.v., đều to lớn béo tốt, không đâu sánh kịp. Nhiều người Do-thái đến ở tỉnh nầy (Công vụ các sứ đồ 2:9). Ðạo Chúa Jêsus đã sớm truyền vào tỉnh nầy (I Phi-e-rơ 1:1). Nhiều giáo hữu có danh tiếng đều từ đó mà ra. Ðến năm 1.000 S.C., còn có thể khảo cứu về Hội Thánh Cáp-ba-đốc.

Cáp-bôn (Cabbon)

     
      Một thành trong miền thấp xứ Do-thái (Giô-suê 15:40).

Cáp-sê-ên (Kabzeel)

     
      Một thành ở cực Nam xứ Giu-đa, gần Ê-đôm. Có lẽ nằm cách Bê-e-sê-ba về phía Ðông Bắc khoảng 7 dặm (11 km). Có thể cũng chính là Giê-cáp-xê-ên trong Nê-hê-mi 11:25 (Giô-suê 15:21; IISa-mu-ên 23:20).

Cáp-tô (Caphtor)

     
      Là một hòn đảo hay là một vùng biển, nơi mà dân Phi-li-tin đã đến đây ở trước tiên. Ðồng nhất với đảo Cơ-rết và bao quanh đảo Aegean (Phục-truyền Luật-lệ Ký 2:23; Giê-rê-mi 47:4; A-mốt 9:7).

Cát-tát (Kattath)

      Một thành của chi phái Sa-bu-lôn (Giô-suê 19:15).

Cha-la hay Ha-la (Halah)

     
      Một thành và khu vực của xứ A-sy-ri, nơi mà dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày. Có lẽ nó nằm dọc theo con sông Ha-bo, ở phía Ðông Nam sông Gô-xan hoặc là Assyrian Halahhu, ở phía Ðông Bắc Ni-ni-ve (IICác-vua 17:6; ISử-ký 5:26).

Cham (Ham)

     
      I. Tên riêng của Ai-cập (Vì nước Ai-cập có sông Nil, trong lòng sông có bùn đen, nên gọi là Cham-đen). Trong Thi Thiên có dùng tên nầy nhiều lần (Thi Thiên 78:51; 105:23, 27; 106:22).

      II. Thuộc về xứ Xu-xin, song không biết được tường tận (Sáng thế ký 14:5).

Cha-ran (Charran)

     
      Cũng còn gọi tên là Ha-ran. Tên một thành nhỏ xưa, ở về phía tây bắc xứ Mê-sô-bô-ta-mi. Áp-ra-ham kiều ngụ tại đó cho đến khi cha qua đời, Y-sác cưới vợ, Gia-cốp đi trốn cũng ở thành nầy (Sáng thế ký 11:31; 12:5; 24:10; 27:43; 28:10; 29:4). Ðời vua Ê-xê-chia, thành nầy đã bị A-si-ri diệt mất (II Các vua 19:12; Ê-sai 37:12). Ðất thành nầy ở thượng du sông nhánh Ơ-phơ-rát, ở tại đó có người A-rạp du mục. Người bổn xứ thờ lạy thần mặt trăng. 

Chi-ô (Chios)

     
      Một hòn đảo ở Ðịa Trung Hải, cách phía Tây của Si-miệc-nơ khoảng 12 dặm (19 km) (Công-vụ các Sứ-đồ 20:15). Cũng là Chi-ô trong bảng KJV và Chi-ô trong bảng RSV.

Chi-ô (Kios)

     
      Tên của một hòn đảo và thành phố trên đảo ấy. Sứ đồ Phao-lô dừng lại đây trong lần trở về từ hành trình truyền giáo thứ ba (Công-vụ các Sứ-đồ 20:15). Văn hào Hy-lạp tên là Hommer được cho là ra từ Chi-ô. Nó nằm trên biển Aegean cách bờ biển Tiểu Á chừng 5 dặm. Nó còn được gọi là Scio.

Chíp-rơ (Cyprus)

     
      Một đảo lớn ở phía đông bắc Ðịa-trung-hải, nó xen giữa Si-li-si và Sy-ri. Mặt đông tây dài 360 cây số, mặt nam bắc rộng 270 cây số. Trong đảo phần nhiều là đồng bằng, duy phía bắc và tây nam có núi bao bọc. Ðất mầu mỡ, có rừng rậm, nhiều mỏ đồng tốt. Trong xứ sản xuất dầu, rượu, mật ong, lông chiên và mã não. Cựu Ước dầu không có cái tên Chíp-rơ, song có một đảo gọi là Kít-tim (Sáng thế ký 10:4; Ê-xê-chi-ên 27:6). International Standard Bible Encyclopaedia nói đó tức là đảo Chíp-rơ. Dân cư say đắm rượu, sắc, thờ lạy hình tượng. Có miếu nữ thần trứ danh xây ở Ba-phô. Ba-phô là thành phía tây của đảo nầy còn Sa-la-min thì là thành phía đông. Ðạo Tin-lành truyền đến Chíp-rơ rất sớm (Công vụ các sứ đồ 11:19). Ba-na-ba, Ma-na-son và nhiều môn đồ có tiếng khác đều sanh ở đây (Công vụ các sứ đồ 4:36; 11:20; 21:16). Năm 44 S.C. Phao-lô và Ba-na-ba đến đây truyền đạo (Công vụ các sứ đồ 13:4-12; 15:39; 27:4). Sau đời các sứ đồ, Hội Thánh ở Chíp-rơ lần lần phát đạt, có 15 người làm quản đốc Hội Thánh. Ðến năm 117 S.C. người Do-thái ở Chíp-rơ dấy nghịch cùng La-mã, dân ngoại bị giết tới 240.000 người! Sau cơn biến loạn đã yên, người Do-thái bị đuổi ra khỏi đảo. Năm 1191 S.C. vua nước Anh tên là Richard I tranh chiến lấy đảo nầy, rồi bán lại cho một hội kín có tổ chức. Qua năm 1570, Chíp-rơ thuộc về... về sau người đạo Hồi-hồi cai trị đảo nầy hàng 300 năm. Ðến năm 1878 nó lại thuộc quyền trị nước Anh song vẫn phải tấn cống nước Thổ-nhĩ-kỳ (Turquie). Trải nhiều phen bị giày đạp như vậy, Chíp-rơ vẫn chưa phục hồi như cũ: các mõ và rừng cây đều bị đào xới và vét hết rồi.

Chỗ sọ (Calvary)

     
      Một địa danh ở ngoài thành Giê-ru-sa-lem nơi là Chúa Jesus đã bị đóng đinh trên thập tự giá. Cũng được gọi là Chỗ Sọ trong bảng NIV (Ma-thi-ơ 27:33; Giăng 19:17). Cũng xem Gô-gô-tha.

Chòi kẻ chăn chiên (Beth Eked)

     
      Một cái chòi ở trên con đường nằm giữa Gít-rê-ên và Sa-ma-ri. Ở tại "Chòi của kẻ chăn chiên", Giê-hu đã giết 42 con trai của A-háp. Vị trí nằm cách phía Tây Nam Ðô-ta-in khoảng 6 dặm (9 km) (IICác-vua 10:12,14).

Coa (Koa)

      Chỉ trong Ê-xê-chi-ên 23:23 có chép tên nầy, có lẽ là một thành hay một địa hạt trong xứ Ba-by-lôn, hay tên một người.

Cô-lô-se (Colossae hoặc Colosse)

     
      Một thành cổ ở xứ Phi-ri-gi. Nó gần Hi-ê-ra-bô-li, cách Lao-đi-xê độ 15 cây số. Ê-pháp-ra ở lại hai thành đó, qua lại Cô-lô-se, sốt sắng truyền đạo (Cô-lô-se 4:12,13). Ti-mô-thê cũng từng giảng đạo ở Cô-lô-se (Cô-lô-se 1:1). Chỉ có Phao-lô chưa hề thân hành đến thành Cô-lô-se nầy (Cô-lô-se 2:1). Năm 65 S.C., thành nầy hãy còn. Sau, nó với thành Lao-đi-xê và thành Hi-ê-ra-bô-li cũng bị phá hủy bởi cơn động đất. Liền đó người ta xây dựng lại ngay.

Cô-ra-xin (Chorazin hoặc Korazin)

     
      Một xứ trong tỉnh Ga-li-lê, ở về phía tây bắc biển Ga-li-lê, gần Ca-bê-na-um và Bết-sai-đa. Xưa Cứu Chúa đã từng truyền đạo ở xứ nầy. Ngài có chỉ nó mà quở trách (Ma-thi-ơ 11:21; Lu-ca 10:13).

Cô-rinh-tô (Corinth)

     
      Là tỉnh thành của xứ A-chai nước La-mã, nó là một eo đất ở liền với đại lục địa phía Bắc và bán đảo phía Nam, Tây cách cửa biển độ sáu cây số, Ðông cách cửa biển Sen-cơ-rê độ ba mươi bảy cây số. Ðường giao thông tiện lợi. Việc buôn bán thạnh vượng, thành nầy có chỗ đất mà các người vượt biển hay đi đường bộ tất phải qua lại. Ðất xấu, khó trồng cấy. Hai mặt biển đông tây sóng êm nước lặng, phần nhiều dân cư làm nghề hàng hải. Eo đất hẹp, nên thuyền buôn đông tây qua lại, khi vào cửa biển, không cần dỡ hàng hóa, song cả thuyền lẫn hàng cứ do đường cạn mà đẩy đến bờ bên kia, vừa đỡ tốn công dỡ hàng và xếp hàng lại, vừa tránh được cái nguy hiểm đi đường quanh biển phía nam. Còn tàu lớn thì không thế (Công vụ các sứ đồ 27:37,41): hoặc đậu cửa biển đó dỡ hàng, xếp lại, rồi cho sang cửa biển ở bờ bên kia, hoặc vòng quanh biển phía nam mà đến. Ðể che chở thành nầy, trừ vách thành ra, còn có cái núi đá cao, đứng đối ngang với biển trông rất hiểm trở, song trên ngọn rộng rãi, có thể dùng làm phố chợ.

      Xưa thành nầy là đất phồn hoa của nước Hy-lạp, nhơn dân kiêu ngạo dâm dật, phong tục xấu xa. Sự dâm loạn, họ chẳng những không giấu giếm thôi, lại còn đặt làm điển lễ thờ lạy nữ thần nữa. Việc làm dơ dáy của họ không thể kể xiết! Năm 146 T.C., thành nầy bị người La-mã diệt mất! Về sau, lối năm 46 T.C., Jules César nổi lên khôi phục được thành Cô-rinh-tô; song cũng còn người La-mã ở tại đó, các thói xấu vẫn còn như cũ.

      Năm 52 S.C., Phao-lô đến thành nầy, có cùng ở với ông A-qui-la và vợ ông là Bê-rít-sin (Công vụ các sứ đồ 18:1,2) trong vòng một năm sáu tháng. Và, Phao-lô làm nghề may trại để nuôi mình. Phao-lô trước giảng đạo cho người Do-thái, sau cho người ngoại. Cũng tại thành nầy, Phao-lô viết thơ thứ nhứt gởi cho người Tê-sa-lô-ni-ca. Cách ít lâu, lại viết thơ thứ hai. Sau đó, ông lại đến tận nơi (II Cô-rinh-tô 1:15; 2:1; 12:14,21; 13:1,2), viết thơ gởi cho Hội Thánh La-mã. Bấy giờ có A-bô-lô, A-qui-la, Sốt-then đi theo ông (Công vụ các sứ đồ 18:2; I Cô-rinh-tô 1:1; 16:12). Lối năm 66 S.C. khi Néron, vua La-mã, trị vì, có thử đào sông cho thông suốt từ đông sang tây, sau gặp sự ngăn trở, sợ Chúa nổi giận, sông Néron bèn thôi không làm nữa. Ðến nay thành hoang vu, nhưng người ta đã đào được sông từ lâu rồi.

Cốt (Cos)

     
      Là một đảo nhỏ trong biển Egée, nó cách phía tây nam Tiểu-Á-tế-á (Asie mineure) không xa mấy. Thành phố lớn nhứt trong đảo nầy mấy lần bị đổ nát vì động đất. Khi trở về thành Giê-ru-sa-lem, Phao-lô có qua đảo nầy (Công vụ các sứ đồ 21:1). Ðất đảo nầy tốt. Các sản phẩm như nho, tơ tằm và đồ chế tạo, v.v... đều tốt lắm.

Cơ-lô-đa (Cauda hoặc Clauda)

     
      Một đảo nhỏ ở phía nam Cơ-rết (Công vụ các sứ đồ 27:16). Chính tàu Phao-lô đi đã bị bạt đến dưới hòn đảo Cơ-lô-đa nầy, vì bấy giờ gió bão dữ dội.

Cơ-nít (Cnidus hoặc Cridus)

     
      Một thành ở phía tây nam xứ A-si, có một cửa biển. Dân cư thờ lạy nữ thần, tức là Vệ nữ (Vénus). Chiếc tàu Phao-lô đi đến La-mã có đi qua chỗ đối ngang thành nầy (Công vụ các sứ đồ 27:7).

Cơ-rết (Crete)

     
      Là một đảo lớn trong Ðịa-trung-hải, nó ở phía đông nam nước Hy-lạp, dài độ 240 cây số, chỗ rộng độ 52 cây số, chỗ hẹp độ 9 cây. Trong đảo có dãy núi nổi nhiều ngọn. Xưa, có người Cáp-tô-rim ở đảo nầy. Dân cư khéo bơi thuyền, đi lại các nơi cửa biển. Năm 68 T.C., đảo Cơ-rết bị nước La-mã xâm chiếm; nhiều người Do-thái dời đến ở đây, nên khi giữ Lễ Vượt Qua, có người từ đảo nầy mà đến (Công vụ các sứ đồ 2:11). Ðã từ sớm lắm, đạo Tin Lành truyền vào đảo nầy. Khi Phao-lô đi đến La-mã, tàu có qua đảo nầy (Công vụ các sứ đồ 27:7). Về sau, lập Hội Thánh ở đây, Phao-lô để Tít ở lại để cai trị Hội Thánh (Tít 1:5). Một tiên tri của Cơ-rết có nói: "Người Cơ-rết hay nói dối; là thú dữ, ham ăn mà làm biếng" (Tít 1:12).

Cửa Cá (Fish Gate)

     
      Một cửa cũ ở vách tường phía Bắc thành Giê-ru-sa-lem (IISử-ký 33:14; Nê-hê-mi 12:39).

Cửa Ðẹp (Beautiful Gate)

     
      Cổng của thành Giê-ru-sa-lem, nơi mà Phi-e-rơ và Giăng đã chữa lành cho một người què. Có lẽ cũng là cổng ở về phía Ðông Ðền thờ của vua Hê-rốt, cửa nầy được làm bằng đồng của thời Hy-lạp và rất nổi tiếng bởi vẻ lộng lẫy, nguy nga của nó (Công-vụ các Sứ-đồ 3:2).

Cửa Góc (Corner Gate)

     
      Một cái cửa ở góc Tây Bắc của vách thành Giê-ru-sa-lem, ở phía Nam cửa Ép-ra-im, ở phía Tây của cung điện (IICác-vua 14:13; IISử-ký 26:9; Giê-rê-mi 31:38).

Cửa Ngựa (Horse Gate)

     
      Một cái cửa của thành Giê-ru-sa-lem nằm ở phía Ðông của cung điện. Tại đây, bà A-tha-li đã bị giết chết bởi lệnh của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa (IISử-ký 23:15; Nê-hê-mi 3:28).

Cửa Nước (Water Gate)

     
      Một cửa của thành Giê-ru-sa-lem nơi mà dân sự đã nhóm hiệp lại để nghe E-xơ-ra đọc Luật pháp. Nằm ở phía Ðông thành Giê-ru-sa-lem. Không biết rõ được vị trí chính xác (Nê-hê-mi 8:1; Nê-hê-mi 8:3).

Cửa Ðông (East Gate)

     
      Cửa nằm ở phía Ðông của đền thờ (ISử-ký 26:14; IISử-ký 31:14).

Cửa Trũng (Dung Gate)

     
      Cửa của thành Giê-ru-sa-lem vào thời Nê-hê-mi, nằm ở góc Tây Nam của vách thành được mở hướng về phía trũng Him-nôm (Nê-hê-mi 2:13; 3:14; 12:31).

Cun (Chun hoặc Cun)

     
      Một thành thuộc xứ Sy-ri. Cũng là Bê-rốt trong Ê-xê-chi-ên 47:16 và Bê-rô-tôi trong IISa-mu-ên 8:8 (ISử-ký 18:8; Ê-xê-chi-ên 47:16; IISa-mu-ên 8:8). Cũng là Cun trong bảng KJV.

Cu-san (Cushan)

     
      Một địa danh được ghi lại trong sách Ha-ba-cúc 3:7. Có lẽ cũng là Cút hay đúng hơn đó là một địa danh khác thay cho vùng đất xứ Ma-đi-an. Vợ của Môi-se được gọi là người Cút được chép trong Dân-số Ký 12:1, có khả năng vợ Môi-se đến từ Cu-san hoặc Ma-đi-an (Ha-ba-cúc 3:7; Dân-số Ký 12:1).

Cu-tha (Cuthah)

     
      Một thành cổ và rất quan trọng của người ở Ba-by-lôn; tàn tích của thành nằm cách phía Ðông Bắc xứ Ba-by-lôn khoảng 16 dặm (26 km). Vua Sargon đã trục xuất dân ở thành nầy đến thành Sa-ma-ri. Chúng chiếm lấy Sa-ma-ri và ở trong các thành đó rất đông. Trong thành có hình tượng Nẹt-ganh, vị thần của âm phủ (IICác-vua 17:24; IICác-vua 17:30).

Cút (Cush)

     
      I. Ở trong bờ cõi nước Ba-tư, có sông Ghi-hôn chạy quanh bốn phía (Sáng thế ký 2:13; Sô-phô-ni 3:10).

      II. Chỉ về chỗ đất trong miền Biển Ðỏ, phía nam nước A-rạp; Nim-rốt lập nước ở đó (Sáng thế ký 10:8-10; II Sử ký 21:16). Vợ của Môi-se có lẽ là người xứ nầy (Xuất Ê-díp-tô ký 2:16-21; Dân số ký 12:1).

      III. Cúc ở phía đông nam nước Ai-cập mà Kinh Thánh thường nói, tức là Ê-thi-ô-bi (Ê-sai 18:1; 20:3-5; Giê-rê-mi 13:23; Ê-xê-chi-ên 29:10; Ða-ni-ên 11:43; A-mốt 9:7).

      Bờ cõi xứ Cúc, về phía nam rộng hơn. Chỗ khởi đầu của nó là cái thác thứ nhứt của Sy-ri. Trong khi xứ nầy còn rộng rãi lắm, nó bao gồm cả một bộ phận nước Soudan. Năm 2000 T.C., tức đời trào thứ XII Ai-cập, Ai-cập diệt Cúc, rồi hợp gồm làm một nước. Ðến trào thứ XXII nước Ai-cập, nước nầy lần suy yếu, nước Cúc lần mạnh lên, chiếm cả phía bắc nước Ai-cập, rồi gầy dựng nước Ê-thi-ô-bi. Bấy giờ là trào thứ XXV nước Ai-cập, tức năm 728-663 T.C.. Hồi đó, vua nước Cúc tên là Tiệt-ha-ca đánh nước A-si-ri, bị vua San-chê-ríp đánh bại (II Các vua 19:9), cuối cùng bị nước A-si-ri diệt mất!_